vanban.org

Bản án 69/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên Tuyên án 11/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn X 01 (Một) năm tù; thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày 30/12/2022. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA - Lò Văn X - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUẦN GIÁO
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2023/HS-ST
Ngày 11/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bạc Thị Hồng và ông Nguyễn Trọng Dương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thào A Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mạnh, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn X; tên gọi khác: Không; sinh năm 1970; tại xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; giới tính: Nam; nơi cư trú: Bản K, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: Lớp 1; con ông Lò Văn B, đã chết; con bà Lò Thị P, đã chết; vợ bị cáo là Lường Thị T, sinh năm 1973 và có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 14/9/2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt 04 năm tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, bị cáo đã được xóa án tích và bị cáo chưa bị xử lý hành chính; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay và bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Những người bào chữa cho bị cáo:

1. Bà Bùi Thúy A; Trợ giúp viên pháp lý của Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; có mặt.

2. Ông Đỗ Xuân T1; Trợ giúp viên pháp lý của Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 30/12/2022, bị cáo một mình đi bộ từ nhà ở bản K, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên đến bản C, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến bản Co Đứa, bị cáo gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi bị cáo không rõ lai lịch nhìn giống người nghiện ma túy. Qua trao đổi, bị cáo mua được của người đàn ông đó 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa Heroine với giá 50.000đ. Việc trao đổi mua bán ma túy chỉ có bị cáo và người đàn ông đó, ngoài ra không có ai tham gia cùng, khi mua không cân xác định khối lượng ma túy. Sau khi mua được bị cáo cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc và đi bộ về nhà. Khoảng 19 giờ cùng ngày, bị cáo đi nhờ xe của một người không quen biết ra bản Ta Cơn, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên để bắt xe khách. Sau đó bị cáo lên xe khách Chân Đất, biển kiểm soát 29F-000.49 chạy tuyến Điện Biên - Thái Nguyên để đi ăn cưới con gái riêng của vợ tại Thái Nguyên. Đến khoảng 19 giờ 45 cùng ngày, khi xe khách chạy đến khu vực Bản T, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên thì bị Tổ công tác Công an huyện T phối hợp với tổ công tác 1266 Công an tỉnh Đ dừng xe kiểm tra đã phát hiện bắt quả tang và thu giữ của bị cáo 01 gói nghi ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa bị cáo cùng vật chứng về Cơ quan điều tra để điều tra, làm rõ.

Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 30/12/2022, có sự chứng kiến của bị cáo đã xác định như sau: 01 gói bên trong có chất màu trắng được xác định khối lượng là 0,11 gam, gửi toàn bộ 0,11 gam làm mẫu gửi giám định. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 01/QĐ-CSĐT, ngày 01/01/2023. Tại bản Kết luận giám định số: 125/KL-KTHS ngày 08/01/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng dạng cục thu giữ của Lò Văn X gửi giám định là chất Ma túy: Loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định 0,05 gam Heroine.

Tại Cáo trạng số: 47/CT-VKSTG ngày 11 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; đã truy tố bị cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu vật chứng còn lại của vụ Lò Văn X có khối lượng 0,05 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ phong bì cũ để tiêu hủy. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có đơn đề nghị miễn án phí; nên đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Đề nghị của những người bào chữa cho bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo; đồng thời xem xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo tuyên phạt bị cáo mức án thấp nhất có thể cho bị cáo; đề nghị không phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02), Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL31), Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (BL32), Kết luận giám định (BL35); Biên bản ghi lời khai (BL50-51), Biên bản hỏi cung bị can (BL62-65) và các chứng cứ khác; do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 30/12/2022, bị cáo bị bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu 0,11 gam Heroine. Nguồn gốc Heroine bị cáo mua được của một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 50.000đ nhằm mục đích sử dụng. Sau khi mua được ma túy trên đường đi làm thuê, thì bị phát hiện và thu giữ. Hành vi, mục đích và khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy của Nhà nước; hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an tại địa phương và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định, phát triển của xã hội. Vì vậy, cần đưa ra mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo; như vậy mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 BLHS quy định; bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành; nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tuyên mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; Hội đồng xét xử xét thấy là đúng về tội danh, tính chất, mức độ, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo; nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét đề nghị của những người bào chữa: Những người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xử phạt với mức thấp nhất có thể cho bị cáo, miễn phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng cần căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để xử lý vật chứng như sau: Đối với vật chứng còn lại của vụ Lò Văn X có khối lượng 0,05 gam Heroine, do đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 mảnh nilon màu Xanh, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng do không còn giá trị sử dụng vì vậy tịch thu để tiêu hủy.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo đã có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm; vì vậy bị cáo có đủ điều kiện để được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với người đàn ông không rõ lai lịch đã bán ma túy cho bị cáo, nhưng khi mua bị cáo không hỏi tên tuổi địa chỉ ở đâu nên không có cơ sở xác minh làm rõ, do đó tại vụ án này HĐXX không xem xét.

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Không có ý kiến khiếu nại các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn X 01 (Một) năm tù; thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày 30/12/2022.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì màu trắng của Phòng K - Công an tỉnh Đ, mặt trước phong bì niêm phong có chữ viết tay: Mẫu hoàn lại theo Kết luận giám định số 125/KL-KTHS ngày 08/01/2023 có khối lượng mẫu hoàn lại 0,05 gam Heroine và 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín, mặt trước phong bì có ghi vật chứng còn lại vụ Lò Văn X gồm có 01 mảnh nilon màu Xanh, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Lò Văn X (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo).

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn X được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 11/5/2023).

Cỡ chữ