- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tráng A Chía - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tráng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2023/HS-ST Ngày: 28/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Kỷ; Bà Nguyễn Thị Hằng.
Thư ký phiên toà: Ông Giang Tiến Hiệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST-HS ngày 17/7/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tráng A C (Tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; sinh ngày 01/01/1967 tại: Huyện T, tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: Bản T, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Không biết chữ. Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không có. Con ông Tráng A C (đã chết), con bà: Vàng Thị S, sinh năm 1935. Gia đình bị cáo có 10 anh em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình. Có vợ là Vàng Thị V, sinh năm 1968 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 1999.
Tiền án: 01 tiền án, cụ thể: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2014/HSST ngày 28/8/2014 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; Điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33 Bộ luật Hình sự xử phạt Tráng A C 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 17/11/2016, Tráng A C chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Ngoài ra, còn tuyên về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự; các Điều 604, 605, 606, 608 Bộ luật dân sự buộc Tráng A C phải bồi thường cho các bị hại tổng số tiền là 33.130.000 đồng, Tráng A C đã thi hành xong số tiền 9.000.000 đồng, còn phải thi hành số tiền bồi thường trách nhiệm dân sự là 24.130.000 đồng; Ngoài ra còn tuyên phạt án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng và 1.656.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, Tráng A C đã thi hành xong. Hiện bị cáo chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 23/3/2023, tạm giam từ ngày 01/4/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Bị cáo tham gia tại điểm cầu thành phần 1: Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (Có mặt).
- Người tham gia tố tụng tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Tráng Thị V, sinh 1999; nơi cư trú: Bản T, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt).
- Những người tham gia tố tụng tại điểm cầu thành phần 1 Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu:
Ông Lò Văn T - Cán bộ Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp - Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (Có mặt).
Ông Lò Văn H - Cán bộ Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp - Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (Có mặt).
- Người tham gia tố tụng tại điểm cầu thành phần 2 Phòng Nghiệp vụ Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu:
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân O – Luật sư, cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23/03/2023 Tráng A C, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu sơn đen, biển kiểm soát 25B1-643.89 (chiếc xe này C mượn của con gái tên là Tráng Thị V, sinh năm 1999, trú cùng bản nhưng không nói cho V biết mượn xe là để đi mua ma tuý) đi từ nhà xuống bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên mục đích để tìm mua Heroin sử dụng. Khi đến bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, C gặp và mua được của một người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch 01 gói Heroin bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 50.000 đồng. Sau khi mua bán Heroin xong, người phụ nữ đó đi đâu không rõ, còn C cầm gói Heroin cất giấu vào trong túi áo ngực bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về. Đến hồi 18 giờ 20 phút cùng ngày, C điều khiển xe mô tô đến bản Mít Thái, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên thì bị lực lượng Công an huyện Tân Uyên phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Tráng A C 01 gói Heroin bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu xanh có khối lượng là 0,18 gam. Ngoài ra còn thu giữ của C 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu sơn đen, biển kiểm soát 25B1- 643.89.
Ngày 23/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã tiến hành thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại bản Kết luận giám định số 77 ngày 23/3/2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Vật chứng nghi là ma tuý thu giữ của Tráng A C có khối lượng là 0,18 gam
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã gửi toàn bộ 0,18 gam chất bột, màu trắng theo Tráng A C khai nhận là Heroin gửi giám định. Tại kết luận giám định số 366/KL-KTHS ngày 28/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “01 mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine” có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất ma tuý”.
Vật chứng thu giữ trong quá trình bắt quả tang Tráng A C gồm: 01 gói Heroin bên ngoài được gói bằng mảnh nilon xanh có khối lượng 0,18 gam và đã gửi toàn bộ đi giám định; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu sơn đen, biển kiểm soát 25B1-643.89.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của chị Tráng Thị V, sinh năm 1999, trú tại bản Thào, xã Hố Mít, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (là con gái của bị can). Việc bị cáo Tráng A C điều khiển chiếc xe này đi mua và tàng trữ Heroin thì V không biết. Xét thấy việc xử lý vật chứng không làm ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên ngày 01/4/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho Tráng Thị V.
Tại bản Cáo trạng số: 54/CT-VKS-TU, ngày 06/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Tráng A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận điều tra và bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tráng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tráng A C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa phân tích, đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 294; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt, miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo Tráng A C thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố trong quá trình xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hồi 18 giờ 20 phút ngày 23/3/2023, tại bản Mít Thái, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, Tráng A C đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin có khối lượng là 0,18 gam mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện Tân Uyên phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo Tráng A C là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo ý thức được điều đó nhưng vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Tráng A C đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên được bố, mẹ nuôi dưỡng, không được đi học và ở nhà phụ giúp gia đình và xây dựng gia đình. ngày 28/8/2014 Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; Điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33 Bộ luật Hình sự xử phạt Tráng A C 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 23/3/2023 thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến ngày 01/4/2023 bị cáo bị khởi tố.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ nên hiểu biết về pháp luật còn có nhiều hạn chế, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2014/HSST ngày 28/8/2014 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt bị cáo 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện bị cáo chưa được xóa án tích. Do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức án phù hợp, tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. Do vậy quan điểm giải quyết vụ án của đại diện viện kiểm sát là hoàn toàn có cơ sở đúng pháp luật. Đối với đề nghị của người bào chữa là đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy mức án như vậy là chưa đủ răn đe, giáo dục bị cáo nên không được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nguồn thu nhập thấp, kinh tế còn có nhiều khó khăn và không có tài sản riêng. Do đó Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án gồm: 0,18 gam Heroine Cơ quan điều tra đã trích toàn bộ gửi giám định, Cơ quan giám định lưu mẫu không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết.
Đối với chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của chị Tráng Thị V, sinh năm 1999, nơi cư trú: Bản Thào, xã Hố Mít, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (là con gái của bị cáo). Việc bị cáo Tráng A C điều khiển chiếc xe này đi mua và tàng trữ Heroin thì V không biết. Ngày 01/4/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho Tráng Thị V là hoàn toàn có cơ sở, đúng quy định.
Vật chứng còn lại gồm: 01 mảnh nilon xanh. Hội đồng xét xử xác định đây là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Những vấn đề có liên quan:
Về nguồn gốc số Heroine, Tráng A C mua được 01 người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên. Quá trình điều tra không xác định được nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Đối với Tráng Thị V là chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25B1-643.89 do Tráng A C điều khiển đi mua Heroin. Quá trình điều tra xác định việc C mượn, điều khiển xe mô tô đi mua và tàng trữ Heroin thì V không biết nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên không đề cập xử lý với Tráng Thị V là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm do đó Hội đồng xét xử chấp nhận và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tráng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tráng A C 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 23/3/2023.
Miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư làm bằng bì thư màu trắng, hình chữ nhật của Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, bên trong đựng 01 mảnh nilon xanh.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 00 phút, ngày 27 tháng 7 năm 2023 giữa cơ quan CSĐT – Công an huyện Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên).
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Tráng Thị V vắng mặt được quyền kháng cáo bản án có liên quan đến quyền lợi của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết lên Tòa án cấp trên.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Tân Uyên; - Chi cục THADS huyện Tân Uyên; - Công an huyện Tân Uyên; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Văn Thanh |