- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? [ 1 ] Tuyên bố bị cáo Vi Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2023/HS-ST Ngày 12 tháng 9 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Văn Đạt.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Anh Quân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Lĩnh: Kiểm sát viên:
Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐXXST-HS, ngày 31/8/2023 đối với bị cáo:
Vi Văn H: Sinh năm 1982 tại xã C, huyện Q. Nơi cư trú: Bản Phảy, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, nghề nghiệp lao động tự do, trình độ học vấn 7/12, dân tộc Thái, giới tính N, tôn giáo không, quốc tịch Việt Nam, con ông Vi Văn T và bà Kim Thị T1, vợ là Hà Thị Y, con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2014, tiền án, tiền sự: Không, nhân thân năm 2016 bị TAND huyện Quỳ Hợp xử phạt 02 năm tù về tội “ Tàng trữ, mua bán trái phép và chiếm đoạt vật liệu nổ” tại bản án số 27/2016/HSST ngày 20/4/2016. Bị cáo đã chấp hành xong bản án này. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/6/2023 đến nay có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 19 giờ 45 phút ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại đoạn đường thuộc xóm B, xã C, huyện Q, Công an xã C tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang đối tượng Vi Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong tay phải của Vi Văn H một gói polyetylen màu trắng, bên trong có một gói giấy vở kẻ ngang, có chứa chất bột nén màu trắng nghi là ma túy. Ngoài ra Cơ quan Công an còn thu giữ của Vi Văn H một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đen; Một chiếc xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 37H1-458.71, sơn màu xanh đen; số tiền 750.000 đồng.
Về vật chứng vụ án:
- 01 (một) phong bì thư được niêm phong, bên trong có chứa vỏ bao niêm phong, bao gói; 0,165g ma túy Heroine còn lại sau giám định;
- Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màn hình cảm ứng, màu xanh đen, số Imei1: 860993056279214, số I: 860993056279206, bên trong có gắn thẻ sim số: 0384.775.745, máy đã qua sử dụng;
- Một chiếc xe máy nhãn hiệu ESPRO, số loại WIN FC140, màu đen, BKS 37H1-458.71, xe đã qua sử dụng.
Kết luận giám định số 715/ KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 29/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “ Mẫu chất bột nén màu trắng xám thu giữ của Vi Văn H gửi tới giám định là ma túy; loại Heroine, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất bột nén màu trắng xám thu giữ của Vi Văn H có khối lượng là 0,290 gam ( Không phẩy hai trăm chín mươi gam). Bản cáo trạng số: 70/CT-VKSQH, ngày 30/08/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Vi Văn H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vi Văn H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2, điểm a, khoản 3, Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định thu của Vi Văn H. Về điện thoại và xe mô tô biển kiểm soát 37 H1- 458.71, số tiền 750.000 đồng trả lại cho bị cáo. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo hiện tại không xác định được họ, tên, tuổi nên không có cơ sở xử lý.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ 2 ] Những chứng cứ xác định có tội, chứng xác định không có tội.
Lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ thì bị cáo phạm tội như sau: Vào hồi 19 giờ 45 phút, ngày 22/6/2023, tại bản Tiệng, xã C, huyện Q, Công an xã C bắt quả tang Vi Văn H có hành vi tàng trữ 0,290 gam Hêrôin. Vi Văn H khai nhận tàng trữ số ma túy trên nhằm mục đích sử dụng. Như vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp truy tố bị cáo Vi Văn H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.
[ 3 ] Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất của vụ án, đây là một vụ án nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và đã xâm phạm vào độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước. Do đó, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục và góp phần phòng ngừa chung.
Xét nhân thân của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo Vi Văn H không có tiền án, tiền sự, có nhân thân xấu, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, bố bị cáo được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo tốt trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[ 4 ] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,165 gam Hêrôin của bị cáo Vi Văn H, trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại và 01 xe máy đã qua sử dụng và số tiền 750.000đ không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
[ 5 ] Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[ 1 ] Tuyên bố bị cáo Vi Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1,2 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Vi Văn H: 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 22/6/2023.
[ 2 ] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,165 gam Hê rô in còn lại sau giám định, trả lại 01điện thoại nhãn hiệu VIVO, 01 xe máy nhãn hiệu ESPRO, màu đen BKS 37H1-458.71 thu của Vi Văn H chi tiết thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Trả lại số tiền 750.000 đồng cho bị cáo Vi Văn H chi tiết thể hiện biên bản giao tài sản số 15/2023/BBBG-KBQH ngày 23/8/2023 của Kho Bạc Nhà nước Q.
[ 3 ] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, bị cáo Vi Văn H phải chịu án phí HSST là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng). Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận -PGĐ kiểm tra TA Tỉnh N. -VKSND huyện Quỳ Hợp. -VKSND tỉnh Nghệ An. -Công an huyện Q. - Những người tham gia tố tụng. - Chi cục THADS huyện Q. - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An. -Lưu hồ sơ vụ án. -UBND xã C, Q. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÀO VĂN ĐẠT |