vanban.org

Bản án 69/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Tuyên án 29/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt áp dụng:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị N.M phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị A 05 tháng 01 ngày tù (năm tháng một ngày), bằng với thời hạn bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 28/4/2023 đến 29/9/2023; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Út cùng đp - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt áp dụng:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 69/2023/HS-ST
Ngày: 29/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Thiện Lai

2. Bà Đào Thị Thu Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Tôn Văn Xuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị A, sinh năm 1974; nơi sinh: huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp L, xã K, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công Đ (chết) và bà Đào Thị T (chết); Bị cáo có chồng là Phạm Chí H, sinh năm 1974; có 04 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2005. Tiền án: không;

Tiền sự: Ngày 15/3/2022, bị Công an xã K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt (chưa hết thời hạn được xóa tiền sự). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2023 đến nay (có mặt).

2. Nguyễn Thị N.M, sinh ngày 10/9/2002; nơi sinh: huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp L, xã B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị Bích V; Bị cáo có chồng là Phạm Văn U, sinh năm 1990, có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022. Tiền án: không;

Tiền sự: Ngày 02/8/2021, bị Ủy ban nhân dân huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 7.500.000 đồng, về hành vi“Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép”, chưa nộp phạt. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2023 đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Đặng Văn L, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp T, xã V, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

- Ông Lê Quốc T, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp T, xã M, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

- Ông Nguyễn Minh P, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp A, xã T, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

- Ông Đặng Minh T1, sinh năm 1996; địa chỉ: khóm T, phường H, thành phố L, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

- Ông Cao Tuấn K, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp L, xã K, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, (có mặt).

- Bà Phan Thị Thúy K1, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp A, xã L, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, (có mặt).

- Bà Phạm Thị B, sinh năm 1966; địa chỉ: ấp A, xã L, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, (có mặt).

- Bà Phan Thị Thu A, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp A, xã T, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

- Bà Võ Kim H, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp A, xã K, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

- Ông Võ Văn Q, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp A, xã K, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, (có mặt).

- Ông Trần Trọng T2, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp L, xã K, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

- Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp L, xã K, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

- Bà Phạm Thị Thu Tr, sinh năm 1972; địa chỉ: ấp L, xã K, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

- Ông Huỳnh Văn S, sinh năm 1976; địa chỉ: khóm 4, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đ, (vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Trần Văn C, sinh năm 1998; địa chỉ: khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 20/11/2022, nhận được tin báo của người dân, Công an xã K, huyện Chợ Mới kiểm tra, phát hiện Nguyễn Thị A (đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép), Nguyễn Thị N.M (đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép), Đặng Văn L, Lê Quốc T, Trần Văn C, Nguyễn Minh P, Đặng Minh T1, Cao Tuấn K, Phan Thị Thúy K1, Phạm Thị B, Phan Thị Thu A, Võ Kim H, đang đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền tại khu vực đất trống thuộc ấp L, xã K, nên lực lượng chức năng tiến hành lập biên bản bắt quả tang.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị N.M, khai nhận đã thực hiện hành vi tham gia đánh bạc bằng hình thức đặt cược tài xỉu được thua bằng tiền, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Ngày 15/3/2022, A bị Công an xã K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi“Đánh bạc”, đã nộp phạt. Ngày 02/8/2021, M bị Ủy ban nhân dân huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 7.500.000 đồng, về hành vi“Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép”, chưa nộp phạt. Đến ngày 20/11/2022, A, M tiếp tục tham gia đánh bạc bằng hình thức đặt cược tài xỉu, trong đó A tham gia đặt cược 05 ván, mỗi ván 100.000 đồng, M tham gia đặt cược 02 ván, mỗi ván 200.000 đồng, thì bị bắt quả tang.

Quá trình điều tra thu giữ: số tiền 2.550.000 đồng (gồm thu giữ trên chiếu bạc 400.000 đồng, của L 2.150.000 đồng dùng đánh bạc), 03 (ba) hột xí ngầu, 01 (một) hộp nhựa, 01 (một) cái chén sành, 01 (một) quyển tập, 01 (một) bao nilon màu trắng và 01 (một) xe mô tô biển số 66H3-4430.

Tại Cáo trạng số 52/CT-VKSCM ngày 11/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị N.M về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Các bị cáo A, M thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, khai nhận đã thực hiện hành vi tham gia đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền với các đối tượng khác thì bị bắt quả tang; các bị cáo xác định nhân thân từng bị xử phạt hành chính, cụ thể: Ngày 15/3/2022, A bị Công an xã K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi“Đánh bạc”, đã nộp phạt. Ngày 02/8/2021, M bị Ủy ban nhân dân huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 7.500.000 đồng, về hành vi“Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép”, chưa nộp phạt. Do đó, các bị cáo được xác định chưa được xóa tiền sự; các bị cáo thấy hối hận về hành vi của mình, xin xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cao Tuấn K, Phan Thị Thúy K1, Phạm Thị B, Võ Văn Q có lời khai phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; bà K1, bà B, ông K thừa nhận có tham gia đánh bạc nhưng đã nghĩ trước thời điểm Công an bắt ván quả tang; Q không tham gia đánh bạc, chỉ liên hệ người làm cái, lấy tiền bảo nhưng ngày 20/12/2022 chưa thu được khoản tiền hưởng lợi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới thực hành công tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, tranh luận, xem xét tính chất vụ án, mức độ, hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo tác động đến xã hội, phân tích các tình tiết định tội, định khung hình phạt, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu Luận tội giữ nguyên quyết định Cáo trạng truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự, áp dụng khoản 1 điều 321; Điều 38; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58, 17 (Út áp dụng thêm Điều 54; Nhu Mỹ áp dụng thêm Điều 65) Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị A 05 tháng 01 ngày tù (năm tháng một ngày) về tội “Đánh bạc” bằng với thời hạn tạm giam từ 28/4/2023 đến 29/9/2023); bị cáo đã chấp hành xong;

Áp dụng điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm nào khác.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N.M từ 06 tháng đến 9 tháng tù tội “Đánh bạc” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo; thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng;

Giao bị cáo Mỹ cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Chợ Mới giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung, đối với các bị cáo Út, Nhu Mỹ hoàn cảnh khó khăn, không nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 03 (ba) hột xí ngầu, 01 (một) hộp nhựa, 01 (một) cái chén sành, 01 (một) quyển tập, 01 (một) bao nilon màu trắng là dụng cụ dùng vào việc đánh bạc, không giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền: 400.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Quá trình điều tra đã chứng minh được số tiền 2.150.000 đồng Đặng Văn L đã và sẽ dùng vào việc đánh bạc; Tuy nhiên, do hành vi của Lượm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên đã Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tịch thu số tiền trên sung quỹ Nhà nước là phù hợp, không cần đề cập xử lý.

- Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 66H3-4430 đã xác định là tài sản cá nhân của ông Huỳnh Văn S, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại.

Sau khi nghe quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, các bị cáo không tranh luận, xác định Cáo trạng truy tố đúng tội, không oan, đồng ý với nội dung luận tội của Kiểm sát viên, nói lời sau cùng các bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, không khiếu nại các chứng cứ được thu thập. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đặng Văn L, Lê Quốc T, Nguyễn Minh P, Đặng Minh T1, Phan Thị Thu A, Võ Kim H, Trần Trọng T2, Nguyễn Hoàng S, Phạm Thị Thu Tr, Huỳnh Văn S, người làm chứng Trần Văn C vắng mặt không rõ lý do. Đối với những người này được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng theo đúng quy định; đã được Cơ quan điều tra thu thập lời khai chi tiết, toàn diện, đánh giá sự vắng mặt của những người nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, hoàn toàn phù hợp lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người làm chứng về toàn bộ diễn biến về thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội, các tình tiết khác của vụ án; phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, sơ đồ hiện trường được lập vào ngày 08/02/2023; phù hợp tang vật thu giữ. Ngoài ra, còn phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ.

Qua đó, có đủ căn cứ xác định, khoảng 22 giờ 30 phút ngày 20/11/2022, nhận được tin báo của người dân, Công an xã Long Kiến, huyện Chợ Mới kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị N.M, Đặng Văn L, Lê Quốc T, Trần Văn C, Nguyễn Minh P, Đặng Minh T1, Cao Tuấn K, Phan Thị Thúy K1, Phạm Thị B, Phan Thị Thu A, Võ Kim H, đang đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền tại khu vực đất trống thuộc ấp L, xã K, nên lực lượng chức năng tiến hành lập biên bản bắt quả tang.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị N.M, khai nhận đã thực hiện hành vi tham gia đánh bạc bằng hình thức đặt cược tài xỉu được thua bằng tiền, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Ngày 15/3/2022, A bị Công an xã K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi“Đánh bạc”, đã nộp phạt. Ngày 02/8/2021, M bị Ủy ban nhân dân huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 7.500.000 đồng, về hành vi“Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép”, chưa nộp phạt. Đến ngày 20/11/2022, A, M tiếp tục tham gia đánh bạc bằng hình thức đặt cược tài xỉu, trong đó A tham gia đặt cược 05 ván, mỗi ván 100.000 đồng, M tham gia đặt cược 02 ván, mỗi ván 200.000 đồng, thì bị bắt quả tang.

Với phân tích trên, Hội đồng xét xử xác định, hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị N.M đủ yếu tố cấu thành tội“Đánh bạc”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị N.M về tội danh, điểm, khoản, Điều luật viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Các bị cáo là người trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hoàn toàn đủ khả năng nhận thức, hiểu biết hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng bất chấp, cố ý thực hiện với ý thức mong muốn hậu quả xảy ra. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự xã hội được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, gây lo sợ, bất an trong nhân dân trước tình hình các tội phạm xâm phạm đến trật tự công cộng diễn ra ngày càng nhiều như hiện nay. Với những nhận định, đánh giá trên, cần áp dụng hình phạt nghiêm, áp dụng mức phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà các bị cáo đã gây ra, có thể áp dụng hình phạt đối với A bằng với thời hạn tạm giam, N.M phạt tù nhưng cho được hưởng án treo, không cần thiết phải tiếp tục cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng;

Về tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện được sự ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo A học vấn thấp, không biết chữ; bị cáo N.M đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc là căn cứ giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

Về đánh giá hành vi khác có liên quan:

- Đối với hành vi Đặng Văn L, Lê Quốc T, Nguyễn Minh P, Đặng Minh T1, Cao Tuấn K, Phan Thị Thúy K1, Phạm Thị B, Phan Thị Thu A, Võ Kim H, Võ Văn Q, Trần Trọng T2, tham gia đánh bạc trái phép; trong đó Cơ quan điều tra xác định chỉ có L, P, H tham gia ván quả tang, những người còn lại đã nghỉ trước đó và không chứng minh được số tiền họ đã dùng hoặc sẽ dùng vào việc đánh bạc làm căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định số tiền dùng vào việc đánh bạc nhưng dưới định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự và nhân thân những người nêu trên chưa có tiền án, tiền sự về hành vi “Đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc”. Vì vậy, Cơ quan điều tra chuyển xử lý hành chính là phù hợp.

- Đối với hành vi Q, T khai Nguyễn Hoàng S tổ chức đánh bạc, phân công Quyến, Tấn giúp sức và đã nghỉ trước khi bị Công an đến bắt quả tang, nhưng Sang không thừa nhận tham gia do đi chăn vịt, hiện đã đi khỏi địa phương không rõ địa chỉ; ngoài lời khai của Q, T2 chưa đủ cơ sở quy kết, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau là có căn cứ.

- Đối với hành vi Phạm Thị Thùy Tr không tham gia, không hưởng lợi từ việc đánh bạc, nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung, các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không nghề nghiệp cụ thể, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

Quá trình điều tra thu giữ các vật chứng được xử lý như sau:

- Đối với hành vi Lê Quốc T, Nguyễn Minh P, Đặng Minh T1, Cao Tuấn K, Phan Thị Thúy K1, Phạm Thị B, Phan Thị Thu A thời điểm bắt ván quả tang những người này không thừa nhận tham gia mà chỉ tham gia những ván trước đó. Cơ quan điều tra xác định những đối tượng này đã nghĩ trước đó, không tham gia đánh bạc ván quả tang; không chứng minh được số tiền những người này đã và sẽ dùng vào việc đánh bạc nên đã giao trả số tiền thu giữ và đã chuyển xử lý vi phạm hành chính, nộp phạt theo quy định, nên không đề cập việc nộp tiền sung quỹ Nhà nước.

- Đối với số tiền: 400.000 đồng (bốn trăm nghìn) thu giữ trên chiếu bạc là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Quá trình điều tra đã chứng minh được Đặng Văn L đã và sẽ dùng số tiền 2.150.000 đồng (hai triệu một trăm năm mươi nghìn) vào việc đánh bạc; Tuy nhiên, do hành vi của L chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên đã Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tịch thu số tiền trên sung quỹ Nhà nước là phù hợp, không cần đề cập xử lý.

- Đối với 03 (ba) hột xí ngầu, 01 (một) hộp nhựa, 01 (một) cái chén sành, 01 (một) quyển tập, 01 (một) bao nilon màu trắng là dụng cụ dùng vào việc đánh bạc, không giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 66H3-4430, Cơ quan điều tra đã xác định là tài sản cá nhân của ông Huỳnh Văn S, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại.

- Đối với 04 (bốn) xe mô tô biển số 67L1 – 41815; 67B1-85095; 67M1-21469; 67L1-52563 được thu giữ, Cơ quan điều tra xác định các tài sản trên không liên qua đến tội phạm, không liên quan đến hành vi phạm tội đã giao trả cho các chủ sở hữu; việc giao trả là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật, không đề cập.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động Samsung màu đen thu giữ của bị cáo N.M không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí và quyền kháng cáo: Các Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt áp dụng:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị N.M phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, 58; Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị A 05 tháng 01 ngày tù (năm tháng một ngày), bằng với thời hạn bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 28/4/2023 đến 29/9/2023; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.

Tuyên bố trả tự do ngay tạ phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Thị A nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm nào khác.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N.M 09 tháng tù (chín tháng) nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng (một năm sáu tháng) kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị N.M cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng và biên pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

3.1 Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn);

3.2 Trả lại Ông Huỳnh Văn S: 01 (một) xe mô tô biển số 66h3 - 4430 nhãn hiệu Halim, màu nâu, số máy VLFHMCT100 – 009985, chưa kiểm tra số khung (xe đã qua sử dụng).

3.3 Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị N.M 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen.

3.4 Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) hột xí ngầu, 01 (một) hộp nhựa, 01 (một) cái chén sành, 01 (một) quyển tập, 01 (một) bao nilon màu trắng.

Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới tạm quản lý.(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/9/2023; biên lai thu tiền số 0006235 ngày 26/9/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Chợ Mới và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới).

4. Về án phí:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Các Bị cáo A và N.M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7ª, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ