vanban.org

Bản án 69/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị N và ông Bùi Thanh P.

Về con chung: Giao Bùi Thị Tuyết N (giới tính nữ), sinh ngày 16/12/2011 cho bà Trần Thị N chịu trách nhiệm tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi Bùi Thị Tuyết N đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động sinh sống. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị N về việc không yêu cầu ông Bùi Thanh P cấp dưỡn…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị N và ông Bùi Thanh P.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 3 - 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hoàng Giang.

2. Bà Trần Thị Hoài Yên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Kil - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2023/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 02 năm 2023, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124a/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1989 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh T.

- Bị đơn: Ông Bùi Thanh P, sinh năm 1979 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/02/2023 cùng các văn bản khác kèm theo, nguyên đơn là bà Trần Thị N trình bày:

Về hôn nhân, vào năm 2011 bà (Trần Thị N) và ông Bùi Thanh P chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh T. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường hay tranh cải, vợ chồng không hòa hợp trong lối sống. Bà và ông Bùi Thanh P đã không còn sống chung với nhau từ năm 2020. Nhận thấy hôn nhân không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên bà yêu cầu ly hôn với ông Bùi Thanh P. Về con chung có một người tên là Bùi Thị Tuyết N (giới tính nữ), sinh ngày 16/12/2011. Hiện con chung đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 09/3/2023, bị đơn là ông Bùi Thanh P trình bày:

Ông (Bùi Thanh P) thống nhất với lời trình bày của bà Trần Thị N về thời gian xác lập vợ chồng, việc có đăng ký kết hôn cũng như mâu thuẫn vợ chồng và thời gian không còn sống chung là đúng. Nay bà Trần Thị N yêu cầu ly hôn với ông, ông đồng ý ly hôn bà Trần Thị N. Về con chung có một người tên là Bùi Thị Tuyết N (giới tính nữ), sinh ngày 16/12/2011. Hiện con chung đang do bà Trần Thị N nuôi dưỡng, ông đồng ý giao con chung cho bà Trần Thị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết. Đồng thời ông yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Đại diện chính quyền địa phương xã V, huyện P, tỉnh C xác định: Bà Trần Thị N và ông Bùi Thanh P không có yêu cầu hòa giải nên chính quyền địa phương không xác định được tình trạng mâu thuẫn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 55, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị N và ông Bùi Thanh P. Giao một người con chung tên là Bùi Thị Tuyết N (giới tính nữ), sinh ngày 16/12/2011 cho bà Trần Thị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị N về việc không yêu cầu ông Bùi Thanh P cấp dưỡng nuôi con. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Trần Thị N phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Bà Trần Thị N yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Bùi Thanh P nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Trần Thị N và ông Bùi Thanh P xin vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.

[2]. Xét về hôn nhân: Bà Trần Thị N và ông Bùi Thanh P chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2011, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Việc kết hôn phù hợp với quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân giữa bà Trần Thị N và ông Bùi Thanh P được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường hay tranh cải mà không thể tự hòa giải, hàn gắn. Nhận thấy hôn nhân không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên bà Trần Thị N yêu cầu ly hôn với ông Bùi Thanh P. Ông Bùi Thanh P đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Trần Thị N. Xét thấy, ông Bùi Thanh P đồng ý ly hôn với bà Trần Thị N nên có cơ sở ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị N và ông Bùi Thanh P.

[3]. Về con chung: Có một người tên là Bùi Thị Tuyết N (giới tính nữ), sinh ngày 16/12/2011 hiện đang do bà Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, bà Trần Thị N yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Bùi Thanh P cấp dưỡng nuôi con. Ông Bùi Thanh P thống nhất giao con chung cho bà Trần Thị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, ông Bùi Thanh P không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy việc thỏa thuận nuôi con và không cấp dưỡng nuôi con giữa bà Trần Thị N và ông Bùi Thanh P là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc nên có cơ sở ghi nhận.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị N và ông Bùi Thanh P xác định không có, đồng thời không có yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[5]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Trần Thị N phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các điều 9, 55, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 cùng của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị N và ông Bùi Thanh P.

2. Về con chung: Giao Bùi Thị Tuyết N (giới tính nữ), sinh ngày 16/12/2011 cho bà Trần Thị N chịu trách nhiệm tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi Bùi Thị Tuyết N đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động sinh sống.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị N về việc không yêu cầu ông Bùi Thanh P cấp dưỡng nuôi con.

Ông Bùi Thanh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Bà Trần Thị N đã nộp xong tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018594, ngày 08 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, nay chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ