vanban.org

Bản án 69/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị T 1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Thạch Thị T được ly hôn với ông Phan Văn C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2023/HNGĐ – ST
Ngày: 05-9-2023
V/v “Ly hôn, nuôi con”

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN LOÄC NINH, TÆNH BÌNH PHÖÔÙC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Vui

2. Ông Võ Đức Thọ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Anh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Cao Thanh Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 280/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Thạch Thị T, sinh năm 1998. (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Việt Quang, xã Lộc Quang, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước

* Bị đơn: Ông Phan Văn C, sinh năm 1980. (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Việt Quang, xã Lộc Quang, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Thạch Thị T trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị T và ông Phan Văn C có tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2013. Đến ngày 26/4/2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Quang, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Trước khi sống chung có tìm hiểu nhau trong thời gian 01 năm.

Sau khi sống chung vợ chồng bà Thạch Thị T sống tự lập tại tổ 5, ấp Việt Quang, xã Lộc Quang, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Vợ chồng bà Thạch Thị T sống hạnh phúc đến khoảng năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống không hạnh phúc, ông C thường xuyên nhậu nhẹt kiếm chuyện đánh đập bà Thạch Thị T nên vợ chồng bà Thạch Thị T sống ly thân từ tháng 2/2023 cho đến nay.

Nay nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không C được nên bà Thạch Thị T làm đơn xin được ly hôn với ông Phan Văn C.

+ Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung:

1. Phan Văn N, sinh ngày 30/9/2013

2. Phan Văn S, sinh ngày 14/5/2015

Hiện nay các con đang sống cùng bà Thạch Thị T tại tổ 4, ấp Việt Quang, xã Lộc Quang, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Khi ly hôn bà Thạch Thị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục hai con chung là Phan Văn N, sinh ngày 30/9/2013 và Phan Văn S, sinh ngày 14/5/2015.

+ Về yêu cầu cấp dưỡng: Khi ly hôn bà Thạch Thị T không yêu cầu ông Phan Văn C phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Vợ chồng không nhận ai làm con nuôi và hiện nay bà Thạch Thị T không mang thai.

+ Về tài sản chung: Bà Thạch Thị T và ông Phan Văn C không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ chung: Bà Thạch Thị T và ông Phan Văn C không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Phan Văn C trình bày:

Ông C thống nhất với bà T về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Khẳng định vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không trầm trọng, ông C còn yêu thương vợ con nên không đồng ý ly hôn với bà T, do đó về con chung ông C cũng không có yêu cầu gì về con chung. Về tài sản chung và nợ chung không có.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh phát biểu ý kiến:

- Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh không có kiến nghị gì về tố tụng.

- Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Thị T.

+ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Thạch Thị T được ly hôn với ông Phan Văn C.

+ Về con chung: Bà Thạch Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung tên là Phan Văn N, sinh ngày 30/9/2013 và Phan Văn S, sinh ngày 14/5/2015

+ Về yêu cầu cấp dưỡng: Bà T không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

+ Về tài sản chung: Bà Thạch Thị T và ông C khẳng định không có tài sản chung nên không xem xét.

+ Về nợ chung: Bà Thạch Thị T và ông C khẳng định không có nợ chung và không ai yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Thạch Thị T có đơn khởi kiện ly hôn với ông Phan Văn C tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh để giải quyết theo thẩm quyền. Xét thấy ông Phan Văn C có nơi cư trú tại huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, biết được Tòa án đang thụ lý và giải quyết ly hôn theo đơn khởi kiện của bà T nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Bà Thạch Thị T và ông Phan Văn C tự nguyện sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Quang, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Như vậy, hôn nhân giữa bà Thạch Thị T và ông Phan Văn C là hợp pháp.

Theo đơn khởi kiện thì bà Thạch Thị T cho rằng vợ chồng sống không hạnh phúc, phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm. Nay nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Thạch Thị T xin được ly hôn với ông Phan Văn C.

Trong quá trình giải quyết, ông Phan Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, biết được Tòa án đang thụ lý và giải quyết ly hôn theo đơn khởi kiện của bà T nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án mà không có lý do và cũng không có phương hướng nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà Thạch Thị T và ông Phan Văn C đã trầm trọng, cuộc sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà Thạch Thị T được ly hôn với ông Phan Văn C.

+ Về con chung: Bà Thạch Thị T và ông Phan Văn C có 02 con chung tên là Phan Văn N, sinh ngày 30/9/2013 và Phan Văn S, sinh ngày 14/5/2015. Hiện nay con chung đang sống với bà T.

Bà Thạch Thị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Cháu N và cháu S cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, cần giao con chung cho bà Thạch Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp.

+ Về yêu cầu cấp dưỡng: Bà Thạch Thị T không yêu cầu ông Phan Văn C phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về tài sản chung: Bà Thạch Thị T và ông Phan Văn C khẳng định tự vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

+ Về nợ chung: Bà Thạch Thị T và ông Phan Văn C khẳng định không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà Thạch Thị T phải chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện Lộc Ninh là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 39 Bộ luật dân sự;

- Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 84, 85, 86 và 87 Luật hôn nhân gia đình;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị T

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Thạch Thị T được ly hôn với ông Phan Văn C.

2/ Về con chung: Bà Thạch Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên là Phan Văn N, sinh ngày 30/9/2013 và Phan Văn S, sinh ngày 14/5/2015

3/ Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Thạch Thị T không yêu cầu ông Phan Văn C phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

4/ Về tài sản chung: Bà Thạch Thị T và ông Phan Văn C khẳng định không có tài sản chung và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

5/ Về nợ chung: Bà Thạch Thị T và ông Phan Văn C khẳng định không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

6/ Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Thạch Thị T phải chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí bà Thạch Thị T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước theo biên lai thu tiền số: 0010638 ngày 27/7/2023.

7/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ