vanban.org

Bản án 69/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy V.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy V được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hải T1, sinh ngày 24/9/2015 cho chị Nguyễn Thị Thùy V trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, khô…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa Nguyễn Thị Thùy V và Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy V.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24-02-2023
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tạ Công Minh.

2. Ông Huỳnh Văn Phó.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Hoàng Lan Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 716/2022/TB-TLVA ngày 07 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy V, sinh năm 1985

Địa chỉ: tổ 18, thị trấn LT, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1986

Địa chỉ: ấp K2A, xã LĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

(chị V có mặt, anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và bản khai ngày 08 tháng 9 năm 2022 cũng như trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy V trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn T cưới nhau và chung sống từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang năm 2014. Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Hải T1, sinh ngày 24/9/2015, không có tài sản chung và nợ chung. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp nên thường xuyên cãi vả và mất hạnh phúc. Chị đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Anh chị đã sống ly thân với nhau từ tháng 9/2022 đến nay. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu giải quyết cho chị ly hôn với anh T. Về con chung, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung thì không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T: Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy V.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa như sau: Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân thủ đúng quy định pháp luật, riêng bị đơn không thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo thủ tục chung.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Thùy V và anh Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã LĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 04/2014, quyển số 01/2014 ngày 14/02/2014. Như vậy, chị V và anh T có đủ điều kiện kết hôn, tự nguyện chung sống với nhau và đã thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định nên căn cứ các Điều 9 và 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thùy V và anh Nguyễn Văn T là hợp pháp.

Chị V yêu cầu ly hôn với anh T vì cho rằng vợ chồng anh chị đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2019 nguyên nhân do chị V và anh T bất đồng quan điểm sống, thường cãi vả, chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 9/2022 cho đến nay. Lời trình bày của chị V là phù hợp với kết quả xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị V và anh T và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời, anh T mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng anh T cũng không đến để tham gia hòa giải đoàn tụ và không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu của chị V. Xét thấy, giữa chị V và anh T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, không còn thương yêu, quan tâm, chia sẻ, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau nên quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thùy V và anh Nguyễn Văn T chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Hải T1 sinh ngày 24/9/2015. Hiện cháu T1 đang được chị V nuôi dưỡng. Chị V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1. Xét thấy, trong thời gian chị V và anh T sống ly thân, chị V là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm lo về mọi mặt cho cháu T1. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong sinh hoạt và sự phát triển bình thường của cháu T1 và có xét đến nguyện vọng được ở với mẹ của cháu T1, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị V được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, có đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh T không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không đặt ra xem xét.

Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị Nguyễn Thị Thùy V phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 147 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82 và 131 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy V.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy V được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hải T1, sinh ngày 24/9/2015 cho chị Nguyễn Thị Thùy V trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về quan hệ tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy V phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị Thùy V đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0020972 ngày 30/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CT, Tiền Giang nên xem như nộp xong án phí.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ