- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Ngọc D, Lê Thị H và Đặng Văn N tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc D tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 01 năm 2023.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 471 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2023/DS-ST Ngày 14-9-2023 V/v “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thành Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Đông Nguyệt và ông Lê Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thùy Trân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 64/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2023/QĐXX-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1982; Trú tại: Khu phố H, phường H, thị xã D, tỉnh Phú Yên;
2. Bị đơn: Ông Đặng Văn N, sinh năm 1972; Trú tại: Khu phố S, Phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên;
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị H, sinh năm 1972; Trú tại: Khu phố S, Phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Ông D và bà H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, ông N vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc D trình bày: Ngày 16/7/2014 (âm lịch), vợ chồng bà Lê Thị H và ông Đặng Văn N có mượn nguyên đơn số tiền 10.000.000 đồng, không thoả thuận lãi suất, hẹn trong vòng ba tháng sẽ trả nợ. Tuy nhiên từ đó cho đến nay, vợ chồng bà Lê Thị H và ông Đặng Văn N không trả tiền cho nguyên đơn mặc dù nhiều lần nguyên đơn yêu cầu trả nợ nhưng vẫn không trả. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc vợ chồng bà Lê Thị H và ông Đặng Văn N phải trả 10.000.000 đồng tiền gốc và không yêu cầu trả lãi.
Bị đơn ông Đặng Văn N vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H trình bày: Thống nhất như nguyên đơn trình bày về việc vợ chồng bà có khoản vay 10.000.000 đồng và đến nay chưa trả cho nguyên đơn. Vợ chồng bà H đồng ý trả nợ dần cho nguyên đơn và xin Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt giữ nguyên ý kiến trình bày. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và đồng ý trả nợ cho nguyên đơn. Bị đơn ông Đặng Văn N vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 471, 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc vợ chồng bà Lê Thị H và ông Đặng Văn N phải trả cho nguyên đơn 10.000.000 đồng tiền gốc. Về tiền lãi: Nguyên đơn không yêu cầu phải trả lãi nên không xem xét. Về án phí: vợ chồng bà Lê Thị H và ông Đặng Văn N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc D khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Lê Thị H và ông Đặng Văn N trả 10.000.000 đồng tiền gốc nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Vợ chồng bà Lê Thị H và ông Đặng Văn N cư trú tại khu phố 6, phường P, thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Về giải quyết vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn để hòa giải và xét xử nhưng bị đơn vắng mặt, nguyên đơn ông Định và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
Về nội dung vụ án:
Về yêu cầu trả nợ gốc của nguyên đơn: Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc D khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Lê Thị H và ông Đặng Văn N trả số tiền vay còn nợ 10.000.000 đồng, kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn cung cấp bản gốc Giấy mượn tiền do ông Đặng Văn N và và Lê Thị H ký xác nhận khoản vay của vợ chồng. Căn cứ vào Giấy mượn tiền do nguyên đơn cung cấp có nội dung: Ngày 16/7 (âm lịch), vợ chồng bà Lê Thị H và ông Đặng Văn N có mượn nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc D số tiền 10.000.000 đồng, không thoả thuận lãi suất và hẹn trong vòng ba tháng sẽ trả nợ. Sau khi vay tiền cho đến nay, vợ chồng bà Lê Thị H và ông Đặng Văn N không thực hiện trả nợ cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Tại biên bản làm việc ngày 31/7/2023, nguyên đơn xác định vợ chồng bà Lê Thị H và ông Đặng Văn N vay tiền ngày 16/7/2014 âm lịch.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị H có bản trình bày thừa nhận như nguyên đơn đã trình bày về việc vợ chồng bà có khoản vay 10.000.000 đồng đến nay chưa trả và đồng ý trả nợ dần cho nguyên đơn. Ông Đặng Văn N đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt tại Toà để cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh việc trả nợ của mình. Vì vậy, xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu vợ chồng bà Lê Thị H và ông Đặng Văn N trả 10.000.000 đồng tiền gốc là phù hợp với quy định tại Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005, quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc vợ chồng bà Lê Thị H và ông Đặng Văn N phải trả cho nguyên đơn 10.000.000 đồng tiền gốc.
Về lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải trả lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về áp dụng pháp luật: Xét thấy thời điểm các bên tham gia ký kết Hợp đồng vay tài sản là trước ngày 01 tháng 01 năm 2017 (Thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa có hiệu lực pháp luật) nên Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết vụ án.
Về án phí: Vợ chồng bà Lê Thị H và ông Đặng Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 471, 474 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc D tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 01 năm 2023.
Buộc vợ chồng bà Lê Thị H và ông Đặng Văn N phải trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc D số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng về khoản vay tài sản.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vợ chồng bà Lê Thị H và ông Đặng Văn N phải chịu 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc D 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007980 ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND TP. Tuy Hòa; - Chi cục THADS TP. Tuy Hoà; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Thành Trung |