- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c, d khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 58, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 69/2022/HS-ST Ngày: 18 – 3 – 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Ngọc Phƣơng.
Bà Lê Thị Nguyệt.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 459/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 30/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Huỳnh Văn S, sinh năm: 1983 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cƣ trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: Số G, khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Huỳnh Văn H và bà Nguyễn Thị C; Vợ Nguyễn Thị Bé T và có 02 ngƣời con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2021 đến ngày 25/3/2021 đƣợc thay thế biện pháp ngăn chặn đặt tiền để bảo đảm.
2. Trần Vũ Trƣờng G, sinh năm: 1983 tại tỉnh Kiên Trƣờng G; Nơi cƣ trú: Ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Trƣờng G; Tạm trú: C, tổ J, khu phố B, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị L; Vợ Trƣơng Thị C và có 02 ngƣời con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2021 đến ngày 16/4/2021 đƣợc thay thế biện pháp ngăn chặn đặt tiền để bảo đảm.
3. Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1976 tại tỉnh Bình Dƣơng; Nơi cƣ trú: Ấp V, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dƣơng; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Đoàn Thị U (đã chết); Vợ Nguyễn Thị Hồng D và có 01 ngƣời con; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Năm 1996, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cát (nay là thị xã Bến Cát), tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
- Năm 1998, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên (nay là thị xã Tân Uyên), tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 03 năm tù về tội “Cƣớp tài sản của công dân” và 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, tổng hợp hình phạt 5 năm tù.
- Ngày 16/3/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An (nay là thành phố Thuận An), tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 2 năm 6 tháng tù về tội “Cƣớp giật tài sản” theo Bản án số 80/2015/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/12/2016;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2021 cho đến nay.
4. Lê Văn M, sinh năm: 1980 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cƣ trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Hòa hảo; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Lê Văn G và bà Nguyễn Thị G; Vợ Phạm Thị P và có 02 ngƣời con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2021 cho đến nay.
5. Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1986 tại tỉnh Vĩnh Long; Nơi cƣ trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị N; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2021 cho đến nay.
6. Phan Văn N, sinh năm: 1993 tại tỉnh Kiên Trƣờng G; Nơi cƣ trú: Ấp N, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Trƣờng G. Tạm trú: Số F, khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Phan Văn K và bà Phan Thị D; Vợ Trần Thúy L; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2021 cho đến nay 19/01/2021 đƣợc thay thế biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm khỏi nơi cƣ trú.
7. Nguyễn Văn M, sinh năm: 1986 tại tỉnh Cà Mau; Nơi cƣ trú: Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Nguyễn Đình T và bà Trịnh Kim A; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
Ngày 14/3/2013 bị Công an huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi vi phạm trong lĩnh vực an ninh trật tự an toàn xã hội.
Ngày 21/3/2016, bị Ủy ban nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc.
Ngày 01/6/2016, bị Ủy ban nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2021 cho đến nay 19/01/2021 đƣợc thay thế biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm khỏi nơi cƣ trú.
Đến ngày 04/3/2022 bị bắt tạm giam lại cho đến nay.
8. Trịnh Tấn L, sinh năm: 1985 tại tỉnh Cà Mau; Nơi cƣ trú: Ấp T, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Trịnh Văn D và bà Huỳnh Thị H; Vợ Dƣơng Thị Kim N và có 01 ngƣời con; Tiền án : Không.
Tiền sự: Ngày 09/11/2020, bị Công an phƣờng Bình Chuẩn, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng quyết định xử phạt 750.000 đồng về hành vi gây mất trật tự công cộng.
Nhân thân:
Ngày 01/6/2016, bị Ủy ban nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã đóng phạt 16/6/2016).
Ngày 23/8/2016, bị Công an huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc.
Ngày 06/3/2019, bị Công an huyện Cái Nƣớc, tỉnh Cà Mau Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/01/2021 cho đến nay 19/01/2021 đƣợc thay thế biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm khỏi nơi cƣ trú.
Đến ngày 11/01/2022 bị bắt tạm giam lại cho đến nay.
9. Nguyễn Văn T, sinh năm: 1980 tại Thành phố Cần Thơ; Nơi cƣ trú: Ấp N, xã N, huyện P, Thành phố Cần Thơ; tạm trú: Tổ D, khu phố B, phƣờng T, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Dƣơng Thị L (đã chết); Vợ Nguyễn Thị T và có 02 ngƣời con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/01/2021 cho đến nay 19/01/2021 đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm khỏi nơi cƣ trú.
10. Huỳnh Lộc S, sinh năm: 1989 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cƣ trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Tạm trú: Số F, khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông Huỳnh Văn H và bà Đoàn Thị L; Vợ Trần Thị Cẩm G và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2021 cho đến nay 19/01/2021 đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm khỏi nơi cƣ trú.
11. Nguyễn Văn C, sinh năm: 1981 tại tỉnh An Trƣờng G; Nơi cƣ trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Trƣờng G; Tạm trú: Số F, khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Hòa hảo; Trình độ văn hóa: 3/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Lê Thị N (đã chết); Vợ Nguyễn Thị P và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2021 cho đến nay 19/01/2021 đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm khỏi nơi cƣ trú.
12. Phan Văn G, sinh năm: 1992 tại tỉnh Kiên Trƣờng G; Nơi cƣ trú: Ấp N, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Trƣờng G; Tạm trú: D, tổ L, khu phố B, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông Phan Văn K và bà Phan Thị D; Vợ Nguyễn Thị Thúy A và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2021 cho đến nay 19/01/2021 đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm khỏi nơi cƣ trú.
13. Phan Văn T, sinh năm: 1963 tại tỉnh An Trƣờng G; Nơi cƣ trú: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Trƣờng G; Tạm trú: Tổ K, khu phố B, phƣờng T, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Hòa hảo; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Phan Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị P (đã chết); Vợ Lê Kim T và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm khỏi nơi cƣ trú cho đến nay.
14. Phạm Văn S, sinh năm: 1967 tại tỉnh Kiên Trƣờng G; Nơi cƣ trú: M, phƣờng V, thành phố R, tỉnh Kiên Trƣờng G; Tạm trú: Tổ L, khu phố T, phƣờng T, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Con ông Phạm Văn C (đã chết) và bà Phạm Thị T (đã chết); Có 01 ngƣời con; Tiền án, tiền sự: Không; Đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm khỏi nơi cƣ trú.
Các bị cáo đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1974; nơi cƣ trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
2. Ông Trần Văn C, sinh năm: 1985; nơi cƣ trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.
Người làm chứng: Bà Lê Thị Mai T. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 11 giờ 35 phút ngày 10/01/2021, tại tổ 1, khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An kết hợp cùng Công an phƣờng Bình Chuẩn bắt quả tang Huỳnh Văn S, Trần Vũ Trƣờng G, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh T, Lê Văn M đang tổ chức cho Phan Văn N, Huỳnh Lộc S, Trịnh Tấn L, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn C, Phan Văn G, Nguyễn Văn T1, Phan Văn T, Phạm Văn S, Trần Văn C, Nguyễn Văn L và một số đối tƣợng khác đang đánh bạc dƣới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền, tang vật thu giữ: 03 con gà đá, 19 cặp cựa gà bằng kim loại, 03 cây mài cựa kích thƣớc 1,5 x 10cm, 20 cuộn băng keo vải màu trắng, 01 cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn Hòa loại 5 kg, 01 miếng nhựa mica trong suốt kích thƣớc 70 x 40cm, số tiền 40.260.000 đồng. Riêng Huỳnh Văn S cùng một số đối tƣợng chạy thoát. Đến khoảng 14 giờ 35 phút cùng ngày, S đến Công an phƣờng Bình Chuẩn đầu thú và giao nộp 2.500.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định:
S, Trƣờng G, Văn T đứng ra tổ chức cho những ngƣời đến tham gia đá gà ăn thua bằng tiền để thu tiền xâu 5% của bên nào thắng. Trƣờng G liên lạc với những ngƣời có nhu cầu đánh bạc. S cân gà để ra kèo cá cƣợc, làm trọng tài, thu tiền cƣợc của bên thua chung cho bên thắng và tiền xâu mỗi trận. Văn T trông coi địa điểm đá gà, giữ gìn trật tự. T, M và các đối tƣợng tên Th, S, H quét dọn vệ sinh, chăm sóc gà, cảnh giới.
Khi bắt giữ, có các trận đá gà nhƣ sau:
- Con gà điều xanh nặng 3,170kg của Phan Văn N đá với con gà chuối nặng 3,150kg của đối tƣợng tên M1 và Tr (chƣa rõ nhân thân, lai lịch), tỷ lệ 1:1, mỗi bên 7.000.000 đồng. Bên con gà điều xanh có Nhẹ đặt cƣợc 4.000.000 đồng, đối tƣợng còn lại đặt cƣợc 3.000.000 đồng. Bên con gà của M1, Tr và các đối tƣợng còn lại đặt cƣợc 7.000.000 đồng. Kết quả, con gà chuối của Mon thắng, Săng thu tiền bên thua chung cho bên thắng và thu tiền xâu 350.000 đồng.
- Con gà điều xanh không cân ký của 01 ngƣời (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) đá với con gà bƣớm trắng không cân ký của đối tƣợng tên M1, tỷ lệ gà bƣớm trắng chấp gà điều xanh 10 ăn 8, bên gà trắng 10.000.000 đồng, bên gà xanh 8.000.000 đồng. Bên gà điều xanh gồm có chủ gà (không rõ lại lịch) đặt cƣợc 5.000.000 đồng, C đặt cƣợc 800.000 đồng, S đặt cƣợc 1.600.000 đồng, một ngƣời khác chƣa xác định đặt cƣợc 600.000 đồng. Bên con gà bƣớm trắng gồm M đặt cƣợc 5.000.000 đồng, L đặt cƣợc 1.500.000 đồng, M đặt cƣợc 1.500.000 đồng, C đặt cƣợc 1.000.000 đồng, N đặt cƣợc 1.000.000 đồng. Kết quả, con gà bƣớm trắng của M1 thắng, S thu tiền bên thua chung cho bên thắng và tiền xâu 500.000 đồng.
- Con gà bông nặng 2,9kg của Phan Văn G đá với con gà điều xanh nặng 3,170kg của tên M1 và Tr, gà bông đeo 1 cựa, gà xanh đeo 2 cựa, đá đồng kèo tỷ lệ 1:1, mỗi bên 13.000.000 đồng. Bên gà bông gồm Giờ đặt cƣợc 2.000.000 đồng, Chai đặt cƣợc 1.000.000 đồng, T đặt cƣợc 2.000.000 đồng, S đặt cƣợc 1.000.000 đồng, T1 đặt cƣợc 1.000.000 đồng và các đối tƣợng còn lại đặt cƣợc 6.000.000 đồng. Bên gà điều xanh gồm L đặt cƣợc 3.000.000 đồng, M đặt cƣợc 3.000.000 đồng, M1, Tr và đối tƣợng còn lại đặt cƣợc 7.000.000 đồng. Kết quả, con gà điều xanh của M1 thắng thì S thu tiền bên thua chung bên thắng và thu tiền xâu của M1 450.000 đồng.
- Con gà chuối nặng 2,4kg của Nguyễn Văn L đá với con gà bƣớm nặng 2,360kg của Trần Văn C, tỷ lệ 9 ăn 10. Bên con gà chuối của L cƣợc 1.000.000 đồng, Trƣờng G cƣợc 1.000.000 đồng, bên con gà bƣớm của Co cƣợc 1.000.000 đồng, tên Đ cƣợc 1.000.000 đồng nhƣng đang băng cựa gà thì bị bắt quả tang.
Số tiền thu giữ nhƣ sau:
- Trần Vũ Trƣờng G bị thu giữ 5.500.000 đồng.
- Huỳnh Văn S bị thu giữ 1.300.000 đồng.
- Nguyễn Văn T trông coi địa điểm đá gà, giải quyết mâu thuẫn, trật tự. Văn T đƣợc Trƣờng G, Săng chia tiền xâu. Văn T mang theo 6.700.000 đồng, sử dụng 700.000 đồng để đánh bạc trận thứ nhất con gà chuối 700.000 đồng với 01 đối tƣợng (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) nhƣng đá xáo, không thông qua trọng tài, tỷ lệ cƣợc 7 ăn 10, kết thúc trận đá gà Văn T thắng 1.000.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trong ngƣời 7.700.000 đồng.
- Lê Văn M, Nguyễn Văn T cảnh giới, quét dọn vệ sinh, cung cấp băng keo, nƣớc cho gà, phục vụ ăn uống đƣợc S và Trƣờng G trả tiền công từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng/1 ngày, khi bị bắt thu giữ trong ngƣời của M số tiền 500.000 đồng và T 50.000 đồng.
- Nguyễn Văn C mang theo 2.200.000 đồng sử dụng để đánh bạc, C đặt cƣợc trận thứ hai tỷ lệ 10 ăn 8, đặt cƣợc con gà bƣớm trắng 1.000.000 đồng, vừa đặt cƣợc con gà điều xanh 800.000 đồng, đá xáo ngoài 200.000 đồng, kết quả thua 1.000.000 đồng. C đặt cƣợc trận con gà bông thông qua trọng tài, kết thúc trận thua 1.000.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trong ngƣời 1.000.000 đồng.
- Phan Văn G mang theo 2.000.000 đồng sử dụng đánh bạc, G đặt cƣợc trận thứ ba con gà bông, kết quả thua 2.000.000 đồng.
- Nguyễn Văn T1 mang theo 7.300.000 đồng, sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, T1 đặt cƣợc trận thứ ba con gà bông, kết quả thua 2.000.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trong ngƣời 5.300.000 đồng.
- Phạm Văn S mang theo 3.200.000 đồng, sử dụng 1.400.000 đồng đánh bạc. Sớm đặt cƣợc trận thứ hai con gà điều xanh, đặt cƣợc 400.000 đồng với 01 đối tƣợng (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) không qua trọng tài, kết quả thua 400.000 đồng. Sớm tiếp tục đặt cƣợc trận thứ ba con gà bông thông qua trọng tài, kết quả thua 1.000.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trong ngƣời 1.800.000 đồng.
- Phạm Văn T mang theo 1.610.000 đồng, sử dụng 1.000.000 đồng đánh bạc. Tre đặt cƣợc trận thứ ba con gà bông, kết quả thua 1.000.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trong ngƣời 610.000 đồng.
- Phan Văn N mang theo 4.400.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Nhẹ đặt cƣợc trận thứ nhất con gà điều xanh 4.000.000 đồng, kết quả thua 4.000.000 đồng. Nhẹ tiếp tục đặt cƣợc trận thứ hai con gà bƣớm trắng 1.000.000 đồng với tỷ lệ 8 ăn 10, kết quả thắng 800.000 đồng, khi bị bắt thu giữ 400.000 đồng, số tiền còn lại bị mất lúc bỏ chạy.
- Huỳnh Lộc S mang theo 1.800.000 đồng sử dụng đánh bạc. Sơn đặt cƣợc trận thứ hai con gà điều xanh thông qua trọng tài với tỷ lệ 8 ăn 10, kết quả thua 1.600.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trong ngƣời 200.000 đồng.
- Trịnh Tấn L mang theo 3.050.000 đồng sử dụng đánh bạc. Lập đặt cƣợc trận thứ hai con gà bƣớm trắng 1.500.000 đồng, tỷ lệ cƣợc 10 ăn 8, kết quả Lập thắng 1.200.000 đồng. Lập tiếp tục đặt cƣợc trận thứ ba con gà điều xanh 3.000.000 đồng, Lập cá cƣợc riêng (đá xáo) với đối tƣợng (không rõ nhân thân, lai lịch) không thông qua trọng tài 1.500.000 đồng tỷ lệ cƣợc 10 ăn 7, kết quả thắng và khi bị bắt thu giữ trong ngƣời 6.500.000 đồng , số tiền còn lại bỏ chạy bị mất.
- Nguyễn Văn M mang theo 2.800.000 đồng để sử dụng đánh bạc. Mạnh đặt cƣợc trận thứ hai con gà bƣớm trắng 1.500.000 đồng tỷ lệ 10 ăn 8, kết quả thắng 1.200.000 đồng, đặt cƣợc hàng xáo con gà điều xanh trận thứ hai 200.000 đồng với đối tƣợng (không rõ nhân thân, lai lịch) tỷ lệ đá đồng 1:1, thua cƣợc 200.000 đồng. Mạnh tiếp tục đặt cƣợc trận thứ ba con gà xanh số tiền 3.000.000 đồng, tỷ lệ đá đồng 1:1, kết quả thắng đƣợc số tiền 3.000.000 đồng chƣa lấy tiền nhờ Lập giữ dùm, khi bị bắt thu giữ trong ngƣời 3.800.000 đồng.
- Trần Văn C mang theo số tiền 4.500.000 đồng, sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc trận thứ 4, chuẩn bị đá thì bị phát hiện bắt giữ thu giữ trong ngƣời 4.500.000 đồng.
- Nguyễn Văn L mang theo 2.400.000 đồng, sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc trận thứ 4, chuẩn bị đá thì bị bắt thu giữ trong ngƣời 2.400.000 đồng.
Tổng số tiền sử dụng đánh bạc: Phan Văn N, Trung, Mon và các đối tƣợng khác (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng đá gà trận thứ nhất là 14.000.000 đồng; số tiền Trịnh Tấn L, Nguyễn Văn M, Huỳnh Lộc S, Mon, Trung và đối tƣợng khác (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) đá gà trận thứ hai là 18.000.000 đồng; số tiền Nguyễn Văn C, Phan Văn G, Nguyễn Văn T, Phạm Văn S, Phan Văn T, Trịnh Tấn L, Nguyễn Văn M, tên Mon (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) đá gà trận thứ ba là 26.000.000 đồng; tổng số tiền mà Nguyễn Văn L, Trần Văn C, Đệ, Trƣờng G (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng để đánh bạc dƣới hình thức đá gà thứ tƣ là 3.800.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 05/CT-VKS -TA ngày 27/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố các bị cáo:
- Huỳnh Văn S, Trần Vũ Trƣờng G, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh T, Lê Văn M về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c, d khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C, Phan Văn N, Huỳnh Ngọc Sơn, Trịnh Tấn L, Nguyễn Văn M, Phan Văn T, Phạm Văn S, Phan Văn G về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự:
1. Áp dụng điểm c, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 58, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt các bị cáo Huỳnh Văn S, Trần Vũ Trƣờng G, mỗi bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, cho hƣởng án treo.
2. Áp dụng điểm c, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
3. Áp dụng điểm c, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 58, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt các bị cáo Nguyễn Thanh T, Lê Văn M mỗi bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, cho hƣởng án treo.
4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt các bị cáo các Trịnh Tấn L, Nguyễn Văn M mỗi bị cáo từ 08 đến 10 tháng tù.
5. Áp dụng các khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Các Điều 36, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt các bị cáo các Nguyễn Văn C, Phan Văn N mỗi bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
6. Áp dụng các khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 36, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt mỗi bị cáo Nguyễn Văn T, Huỳnh Ngọc Sơn, Phan Văn T, Phan Văn G, mỗi bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
7. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 36, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Văn S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 03 cây mài cựa kích thƣớc 1,5 x 10cm; 20 cuộn băng keo vải màu trắng; 01 cân đồng hồ loại 05kg; 01 miếng nhựa mica trong suốt kích thƣớc 70 x 40cm; 01 sim số 0916817518.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nƣớc số tiền 30.060.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh.
- Trả lại 1.800.000 đồng cho bị cáo Phạm Văn S, 6.000.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Văn T, 1.400.000 đồng cho Nguyễn Văn L, 3.500.000 cho Trần Văn C do không sử dụng đánh bạc,
- Các bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nội dung đơn thể hiện các bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng đã truy tố về tội danh, khung hình phạt, không có ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Các bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là tự nguyện, không trái pháp luật, việc vắng mặt của các bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Lời khai nhận của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhƣ biên bản phạm tội quả tang, lời khai của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 10/01/2021, tại khu khu phố B, phƣờng B, thành phố T, trong lúc Trần Vũ Trƣờng G, Huỳnh Văn S, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh T, Lê Văn M đang tổ chức các trận đá gà thắng thua bằng tiền, cụ thể: Trận giữa bị cáo Phan Văn N cùng đối tƣợng khác với tổng số tiền cá cƣợc 14.000.000 đồng; trận giữa bị cáo Trịnh Tấn L, Nguyễn Văn M, Huỳnh Lộc S và đối tƣợng khác với tổng số tiền 18.000.000 đồng; trận giữa bị cáo Nguyễn Văn C, Phan Văn G, Nguyễn Văn T, Phạm Văn S, Phan Văn T, Trịnh Tấn L, Nguyễn Văn M và đối tƣợng khác với tổng số tiền 26.000.000 đồng thì bị bắt quả tang cùng tang vật.
Hành vi của các bị cáo Trƣờng G, Săng, Văn T, Mận, Tầng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c, d khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi của các bị cáo Nhẹ, Lập, Mạnh, Sơn, Chai, Giờ, Trinh, Sớm, Tre đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đƣợc việc làm của mình là vi phạm nhƣng vì đam mê cờ bạc, các bị cáo rủ rê nhau rồi tụ tập dùng tiền để cá cƣợc thắng thua với nhau thông qua hình thức đá gà. Bị cáo Trƣờng G, Săng, là ngƣời tổ chức, các bị cáo Văn T, Mận, Tầng giúp sức trong việc trông coi, thu tiền xâu, phục vụ ngƣời đến đánh bạc... Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng, lỗi của các bị cáo là cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt các bị cáo với mức án tƣơng xứng nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong vụ án có vai trò đồng phạm nhƣng đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công cụ thể, cùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên vai trò ngang nhau.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Chai, Lập, Mạnh, Nhẹ phạm tội 2 lần trở lên là tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Các bị cáo Văn T, Mạnh, Lập có nhân thân xấu, từng bị Tòa án xử phạt, Cơ quan Nhà nƣớc xử lý hành chính, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần xử phạt mức án nghiêm khắc hơn.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Các bị cáo Trinh, Sơn, Giờ, Tre, Sớm phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo Sớm đƣợc tặng Huy chƣơng chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, huy chƣơng chiến sĩ vẻ vang hạng ba; Cha của bị cáo Tầng là cựu chiến binh; bị cáo Săng đầu thú, có Cha là thƣơng binh hạng 4 là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Các bị cáo Trƣờng G, Săng có nơi cƣ trú rõ ràng, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có khả năng tự cải tạo, việc cho các bị cáo hƣởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hƣớng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cho các bị cáo nói trên hƣởng án treo, tự cải tạo ở địa phƣơng.
Các bị cáo Nhẹ, Trinh, Sơn, Chai, Giờ, Tre và Sớm có nơi cƣ trú rõ ràng nên không cần cách ly ra khỏi xã hội, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đảm bảo tính răng đe và xét thấy các bị cáo đều là ngƣời dân lao động, làm thuê, thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.
Cần áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo nhằm đảm bảo tính răng đe.
Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, thời gian bị tạm giam các bị cáo Mận và Tầng cũng đảm bảo tính răng đe, giáo dục nên xử phạt bằng thời hạn tạm giam, không cần áp dụng hình phạt tù nhƣng cho hƣởng án treo.
Đối với Nguyễn Văn L, Trần Văn C tham gia đánh bạc dƣới 5.000.000 đồng, Công an thành phố Thuận An đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với các đối tƣợng tên M1, Tr1, Th, S, H, Đ và các đối tƣợng khác tham gia tổ chức đánh bạc, đánh bạc nhƣng đã chạy thoát, hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp: Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra thu giữ:
Số tiền 30.060.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh của bị cáo Trần Vũ Trƣờng G sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nƣớc.
1.800.000 đồng của Phạm Văn S, 6.000.000 đồng của Nguyễn Văn T, 1.400.000 đồng của Nguyễn Văn L, 3.500.000 của Trần Văn C không sử dụng đánh bạc nên giao trả lại cho chủ sở hữu.
03 con gà, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã đề nghị Cơ quan chức năng tại địa phƣơng tiêu hủy.
03 cây mài cựa kích thƣớc 1,5 x 10cm; 20 cuộn băng keo vải màu trắng; 01 cân đồng hồ loại 05kg; 01 tấm nhựa mica trong suốt kích thƣớc 70 x 40cm; 01 sim số 0916817518; 19 cặp cựa kim loại sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền đặt để đảm bảo cho các bị cáo xử lý nhƣ sau:
Các bị cáo S, Trƣờng G bị phạt tù nhƣng cho hƣởng án treo nên sẽ đƣợc xử lý theo quy định tại c khoản 2 Điều 10; khoản 1 Điều 11 Chƣơng III của Thông tƣ liên tịch số 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 07/8/2018.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c, d khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 58, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Văn S.
- Điểm c, d khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 58, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Vũ Trƣờng G.
- Điểm c, d khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Văn T1.
- Điểm c, d khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Văn M.
- Điểm c, d khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thanh T.
- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Trịnh Tấn L, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn C, Phan Văn N.
- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Huỳnh Ngọc Sơn, Phan Văn T, Phan Văn G.
- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phạm Văn S.
- Các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Các Điều 106, 136; điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố các bị cáo:
- Huỳnh Văn S, Trần Vũ Trƣờng G, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Thanh T, Lê Văn M phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Phan Văn N, Nguyễn Văn M, Trịnh Tấn L, Nguyễn Văn T, Huỳnh Ngọc Sơn, Nguyễn Văn C, Phan Văn G, Phan Văn T, Phạm Văn S phạm tội “Đánh bạc”.
Mức hình phạt:
1.1. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S 02 (hai) năm tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án (18/3/2022).
Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Văn S 25.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
1.2. Xử phạt bị cáo Trần Vũ Trƣờng G 02 (hai) năm tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án (18/3/2022).
Phạt bổ sung bị cáo Trần Vũ Trƣờng G 25.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
1.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2021.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn T1 20.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
1.4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) năm 02 (hai) tháng 08 (tám) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2021.
Thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam. Áp dụng khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Tầng nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thanh T 20.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
1.5. Xử phạt bị cáo Lê Văn M 01 (một) năm 02 (hai) tháng 08 (tám) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2021.
Thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam. Áp dụng khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Mận nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn M 20.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
1.6. Xử phạt bị cáo Trịnh Tấn L 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2022, đƣợc khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 10/01/2021 đến ngày 19/01/2021.
Phạt bổ sung bị cáo Trịnh Tấn L 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
1.7. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2022, đƣợc khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 10/01/2021 đến ngày 19/01/2021.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn M 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
1.8. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ, đƣợc khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2021 đến ngày 19/01/2021, thời gian cải tạo không giam giữ còn lại là 01 (một) năm 11 (mƣời một) tháng.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn T 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
1.9. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ, đƣợc khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2021 đến ngày 19/01/2021, thời gian cải tạo không giam giữ còn lại là 01 (một) năm 11 (mƣời một) tháng.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn C 10.000.000đồng để sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
1.10. Xử phạt bị cáo Phan Văn N 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ, đƣợc khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2021 đến ngày 19/01/2021, thời gian cải tạo không giam giữ còn lại là 01 (một) năm 11 (mƣời một) tháng.
Phạt bổ sung bị cáo Phan Văn N 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
1.11. Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Sơn 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ, đƣợc khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2021 đến ngày 19/01/2021, thời gian cải tạo không giam giữ còn lại là 01 (một) năm 11 (mƣời một) tháng.
Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Ngọc Sơn 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
1.12. Xử phạt bị cáo Phan Văn G 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ, đƣợc khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2021 đến ngày 19/01/2021, thời gian cải tạo không giam giữ còn lại là 01 (một) năm 11 (mƣời một) tháng.
Phạt bổ sung bị cáo Phan Văn G 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
1.13. Xử phạt bị cáo Phan Văn T 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ.
Phạt bổ sung bị cáo Phan Văn T 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
1.14. Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ.
Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn S 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ của các bị cáo bị xử phạt cải tạo không giam giữ là ngày cơ quan, tổ chức đƣợc giao giám sát, giáo dục ngƣời bị kết án nhận đƣợc quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao các bị cáo: Huỳnh Văn S cho Ủy ban nhân dân phƣờng Bình Chuẩn, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; Trần Vũ Trƣờng G cho Ủy ban nhân dân phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trƣờng hợp các bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hƣởng án treo.
Giao các bị cáo: Phan Văn N, Huỳnh Lộc S, Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân phƣờng Bình Chuẩn, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; Phan Văn G cho Ủy ban nhân dân phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; Nguyễn Văn T, Phan Văn T cho Ủy ban nhân dân phƣờng Tân Phƣớc Khánh, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng; Phạm Văn S cho Ủy ban nhân dân phƣờng Tân Vĩnh Hiệp, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Trƣờng hợp các bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian cải tạo không giam giữ, nếu ngƣời bị xử phạt cải tạo không giam giữ cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định Điều 99 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 thì sẽ bị xử lý theo Điều 105 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc: Số tiền 30.060.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh.
- Tịch thu tiêu hủy: 03 cây mài cựa kích thƣớc 1,5 x 10cm; 20 cuộn băng keo vải màu trắng; 01 cân đồng hồ loại 05kg; 01 tấm nhựa mica trong suốt kích thƣớc 70 x 40cm; 01 sim số 0916817518; 19 cặp cựa kim loại.
- Trả lại 1.800.000 đồng cho bị cáo Phạm Văn S, 6.000.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Văn T, 1.400.000 đồng cho ông Nguyễn Văn L, 3.500.000 cho ông Trần Văn C.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/01/2022 và Ủy nhiệm chi số 02 ngày 08/3/2022 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).
3. Về xử lý Quyết định đặt để đảm bảo:
Hủy các Quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm số 09 ngày 09/3/2021 đối với bị cáo Huỳnh Văn S và số 15 ngày 15/4/2021 đối với bị cáo Trần Vũ Trƣờng G, trả lại số tiền đã đặt bảo đảm theo quy định.
4. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc Bản án hoặc Bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND, Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND, CA TP. Thuận An; - Chi cục THADS TP. Thuận An; - Chánh án (để báo cáo); - UBND xã, phƣờng nơi các bị cáo đƣợc hƣởng án treo, bị phạt cải tạo không giam giữ cƣ trú; - Bị cáo, ngƣời tham gia tố tụng khác; - Lƣu HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Thi |