- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: Khoản 1 Điều 251, Điều 38/BLHS
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật hình sự xử lý; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:69/2022/HS- ST Ngày 30-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tống Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Thoa
Ông Trịnh Đình Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Dung, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huấn - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:65/2022/TLST- HS ngày 16 tháng 11 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:63/2022/ QĐXXST-HS ngày 17/11/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Hồng T, sinh ngày 23/12/1980; Nơi sinh tại: Thị xã B, tỉnh T; NĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 6, Khu phố 11, phường B, thị xã B, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Duy C( đã chết); Con bà: Trần Thị H; Vợ Mai Thị H; Con: có 02 con: Con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 10/02/2015, bị Công an phường Lam Sơn, thị xã Bỉm Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, hình thức: phạt tiền. Đã thực hiện nghĩa vụ nộp phạt; Ngày 08/9/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn xử phạt 24 tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”. Ngày 07/11/2017 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an thị xã Bỉm Sơn( Có mặt)
* Những người làm chứng:
1/ Anh Lê Tiến T- sinh năm 1989; Trú quán: Thôn Yến Vỹ, xã H, huyện Hà T, tỉnh T( Vắng mặt)
2/ Anh Trương Hùng D- sinh năm 1999 Trú quán: Thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh T( Vắng mặt)
3/ Chị Lê Thị Phượng Y- sinh năm 1991
Trú quán: Khu phố 11, phường N, thị xã B, tỉnh T( Vắng mặt)
4/ Anh Bùi Công T- sinh năm 1996
Trú quán: SN 25, Ngõ 1 Đội Cấn, Xóm C, phường L, thị xã B, tỉnh T( Vắng mặt)
* Người chứng kiến: Anh Hoàng Minh Đ- sinh năm 1973 Trú quán: Khu phố 2, phường L, thị xã B, tỉnh T( Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 26/6/2022, Tổ Công tác Điều tra tội phạm về kinh tế- ma túy phối hợp với Đội CSGT Công an thị xã Bỉm Sơn đang làm nhiệm vụ tại đường Trần Hưng Đạo, khu phố 6, phường L phát hiện một xe taxi Mai Linh, màu xanh BKS BKS: 36A- 234.43 do Nguyễn Hồng T điều khiển. Tổ công tác yêu cầu dùng xe, kiểm tra phát hiện thu giữ trong túi quần phía trước bên trái T đang mặc 01 túi ni lông màu xanh thẫm, kích thước túi khoảng (07x10)cm bên trong có đựng 04 viên nén hình tròn màu đỏ, đường kính mỗi viên khoảng 0,5cm, một mặt của mỗi viên có in chữ WY và 02 viên nén hình tròn màu xanh lá cây đường kính mỗi viên khoảng 0,5cm một mặt của mỗi viên có in chữ A, mặt còn lại có in chữ Y1. T khai nhận 06 viên ma túy tổng hợp trên là của T đang mang đi bán cho khách, chưa kịp bán thì bị phát hiện thu giữ.
* Tang vật, tài sản thu giữ gồm:
- 01 túi ni lông màu xanh thẫm, kích thước khoảng (07x10)cm bên trong túi đựng:
+ 04 viên nén hình tròn màu đỏ, đường kính mỗi viên khoảng 0,5cm, một mặt mỗi viên có in chữ WY;
+ 02 viên nén hình tròn màu xanh lá cây, đường kính mỗi viên khoảng 0,5cm, một mặt mỗi viên có in chữ A, một mặt còn lại của mỗi viên có in chữ Y1;
- 01 xe ô tô taxi BKS 36A-234.43 màu xanh, đã cũ;
- 01 chiếc điện thoại di động samsung màu xanh ngọc, mặt sau bị nứt vỡ, loại màn hình cảm ứng bên trong lắp sim số 0971.595.515;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, loại bàn phím, bên trong lắp sim thuê bao số 0393.794.638, đã cũ;
Ngày 29/6/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa có kết luận giám định số 2275/KL-KTHS kết luận:
+ 04 viên nén hình tròn màu đỏ mỗi viên có đường kính khoảng 0,5cm, một mặt mỗi viên có in chữ WY của phong bì niêm phong gửi giam định, có tổng khối lượng (trọng lượng) 0,407 gam loại Methamphetamine.
+ 02 viên nén hình tròn màu xanh lá cây mỗi viên có đường kính khoảng 0,5cm, một mặt mỗi viên có in chữ A, mặt còn lại in chữ Y1 của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng (trọng lượng) 0,212 gam loại Methamphetamine.
* Nguyễn Hồng T khai nhận nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Khoảng cuối tháng 4/2022, do làm ăn thua lỗ nên vướng vào nợ nần nhiều, T đã nhờ anh “Noong Chế” (Họ tên đầy đủ là Phạm Trọng T, sinh năm 1987, trú tại: Khu phố 10, phường N, thị xã B) mua hộ 100 viên ma túy tổng hợp với giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) để bán kiếm lời và đã bán được 94 viên, còn lại 06 viên Thuận đang mang đi bán cho khách qua số thuê bao gọi mua: 0357.757.952 nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt quả tang.
* Ngày 26/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm Sơn tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật và tài sản đối với Phạm Trọng T, Nguyễn Hồng T. Cơ quan CSĐT không phát hiện, thu giữ gì.
Tại Cơ quan CSĐT, Phạm Trọng T khai nhận có quen biết với Nguyễn Hồng T qua những lần đi xe taxi của T. Bản thân T không bán ma túy và không mua hộ ma túy cho T. Việc T khai nhờ Thủy mua hộ ma túy cho T là không đúng sự thật, giữa Thủy và T không có mâu thuẫn gì.
Trương Hùng D biết Nguyễn Hồng T bị bắt về hành vi mang ma túy đi bán cho mình và biết không thể trốn tránh nên ngày 27/6/2022, D đến cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm Sơn khai báo về việc ngày 26/6/2022, D gọi điện thoại cho Nguyễn Hồng T bằng số thuê bao 0357.757.952 để hỏi mua 06 viên ma túy tổng hợp (dạng viên ngựa) với giá 500.000 đồng để sử dụng. T đồng ý bán và hẹn D đến khu vực trường dạy lái xe trên đường Trần Hưng Đạo thuộc khu phố 6, phường L,thị xã B để lấy ma túy. Khi D đi gần đến nơi thì nhìn thấy T đang bị lực lượng Công an kiểm tra nên quay xe về nhà luôn. Ngoài ra D còn khai thêm trước đó đã mua ma túy của Th 03 lần, cụ thể: Lần 1: vào khoảng 17 giờ ngày 24/6/2022 tại đoạn qua cầu Hà Lan, khu phố Đ, phường Đ, thị xã B. Lần thứ 2: vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 25/6/2022 tại khu vực Trường dạy lái xe đường Trần Hưng Đạo, khu phố 6, phường L, thị xã B. Lần thứ 3: vào khoảng 21 giờ ngày 25/6/2022, tại đường Lê Lợi, khu phố 5, phường Đ, thị xã B.
Trương Hùng D biết Thuận bán ma túy là do Bùi Công T giới thiệu và cho số điện thoại của Thuận.
* Lấy lời khai của Bùi Công T, T khai nhận: Th có quen và biết Nguyễn Hồng T bán ma túy vì T đã mua ma túy của Nguyễn Hồng T vài lần vào khoảng đầu tháng 4/2022 nhưng không nhớ thời gian, địa điểm.
* Lê Thị Phượng Y khai nhận có quen biết với Nguyễn Hồng T qua nhiều lần đi taxi của T. Trong một lần đi taxi thì T có nói với Y về việc T đang bán ma túy tổng hợp, nếu có người hỏi mua thì nhờ Y giới thiệu và cho số điện thoại của T. Vào khoảng tháng 4/2022, có Bùi Công T hỏi thì Y nhớ đến lời nói của T và cho T số điện thoại 0971.595.515 của T để Thành chủ động liên hệ mua ma túy. Việc Thành có mua ma túy của T hay không thì Y không biết.
Quá trình điều tra Nguyễn Hồng T thay đổi lời khai: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 26/6/2022, T điều khiển xe ô tô BKS: 36A-234.43 đang trên đường đi đón khách, khi đi đến khu vực đồi xẻ trên đường Trần Hưng Đạo, khu phố 6, phường L thì gặp Tổ công tác Công an thị xã Bỉm Sơn yêu cầu dừng xe kiểm tra phát hiện thu giữ tại túi quần trước bên trái T đang mặc 01 túi ni lông màu xanh thẫm đựng 06 viên ma túy tổng hợp gồm: 04 viên đỏ, 02 viên xanh. T khai 06 viên ma túy tổng hợp trên là của T mua ở một ngôi nhà của Nguyễn Thị Như C ở thôn Nghĩa Đụng, xã H, huyện H để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt.
Tiến hành đối chất giữa Nguyễn Hồng T và Trương Hùng D: D vẫn khẳng định khoảng 10 giờ ngày 26/6/2022, D sử dụng số điện thoại 0357.757.952 gọi cho T hỏi mua 06 viên ma túy tổng hợp. T đồng ý, hẹn D sẽ giao ma túy tại khu vực trường dạy lái xe trên đường Trần Hưng Đạo, khu phố 6, phường L, thị xã B để lấy ma túy. Khi D đi đến chỗ đã hẹn để lấy ma túy thì thấy Công an kiểm tra, bắt giữ T nên quay xe về nhà luôn.
Mặc dù T thay đổi lời khai và không nhận mang ma túy đi bán cho Trương Hùng D nhưng căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản tự khai, biên bản ghi lời khai ban đầu của T, lời khai của D phù hợp với nhau. Do đó có đủ căn cứ khẳng định T đang mang ma túy đi bán cho D, chưa kịp giao ma túy và nhận tiền thì bị Công an phát hiện, kiểm tra, bắt giữ.
Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu ngôi nhà ở thôn Nghĩa Đụng, xã Hà L, huyện H là bà Tống Thị N (đã giao cho con gái là chị Nguyễn Thị H) trông coi, quản lý từ đầu năm 2022 đến nay). Ngày 19/8/2022, Cơ quan CSĐT tiến hành khám xét ngôi nhà trên ở thôn N xã H, huyện H nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Tại Cơ quan CSĐT, Nguyễn Thị Như C, sinh năm 1985 trú tại: khu phố 8, phường B, thị xã B(là con gái bà Tống Thị N) khai báo hiện đang tạm trú tại tổ 4, phường T, thành phố T, tỉnh N từ tháng 4/2020 đến nay để kinh doanh buôn bán không về nhà ở Thôn N, xã H, huyện H. Vào khoảng đầu năm 2022, bà N chuyển đi và giao căn nhà trên cho chị Nguyễn Thị H chịu trách nhiệm trông coi, quản lý. Như C không ở nên không biết bất kỳ sự việc gì xảy ra tại đây.
* Xử lý tang vật, tài sản thu giữ:
- 01 chiếc xe ô tô tắc xi màu xanh biển kiểm soát: 36A- 234.43 đã cũ là tài sản của Công ty taxi Mai Linh (nơi T làm việc) giao cho T là lái xe trực tiếp quản lý, sử dụng để kinh doanh vận tải. Việc T sử dụng chiếc xe trên vào việc đi bán ma túy Công ty TNHH Mai Linh Thanh Hóa không biết. Quá trình điều tra xác định xe có đầy đủ giấy tờ hợp lệ, kết quả kiểm tra thực tế kết cấu khung máy của xe phù hợp với đăng ký xe; qua tra cứu cho kết quả không phải là xe tang vật của vụ án nào. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp nguồn gốc rõ ràng. Việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu không làm ảnh hưởng đến kết quả điều tra vụ án. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm Sơn đã trả lại chiếc xe trên cho Công ty TNHH Mai Linh Thanh Hóa. Ông Phạm Hồng Q (đại diện Công ty) đã nhận lại tài sản theo quy định của pháp luật.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen bạc loại bàn phím, đã cũ bên trong lắp sim số 0393.794.638. Nguyễn Hồng T khai nhận là tài sản của khách đi taxi để quên trên xe, T không biết là của ai. Vì vậy, Cơ quan CSĐT đã Thông báo truy tìm chủ sở hữu, đồng thời tách chiếc điện thoại này ra khỏi vụ án. Khi tìm được chủ sở hữu sẽ đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu samsung màu xanh ngọc, mặt sau bị nứt vỡ, loại màn hình cảm ứng, đã cũ bên trong lắp sim số 0971.595.515;
- 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đ, Đoàn Minh Đ và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa; là tang vật của vụ án đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm Sơn chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn để bảo quản và xử lý theo quy định của pháp luật;
Trương Hùng D khai nhận đã 03 lần mua ma túy của T, nhưng chỉ có lời khai duy nhất của D nên không đủ căn cứ để kết luận D đã mua ma túy của T nhiều lần. Đối với lần mua ma túy ngày 26/6/2022, D gọi điện cho T để mua ma túy phù hợp với lời khai ban đầu của T tuy nhiên D chưa lấy được ma túy nên không xác định được trọng lượng ma túy nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với Trương Hùng D.
Bùi Công T khai nhận đã mua ma túy của T vài lần nhưng T không thừa nhận đã bán ma túy cho T, chỉ có duy nhất lời khai của T nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với T.
Lê Thị Phượng Y khai Thuận nhờ Yế nếu có ai hỏi mua ma túy thì giới thiệu và Y là người đã cho T số điện thoại của Nguyễn Hồng T nhưng Nguyễn Hồng T không thừa nhận nhờ Y giới thiệu người mua ma túy, chỉ có duy nhất lời khai của Y nên không có căn cứ xử lý đối với Lê Thị Phượng Y.
Tại bản cáo trạng số:73/CT-VKSBS ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Hồng T về tội " Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38/BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T từ 30 đến 36 tháng tù về tội " Mua bán trái phép chất ma túy".
Xét bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên đề nghị không áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự để phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đăng, Đoàn Minh Đạt và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa; là tang vật của vụ án đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm Sơn chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn để bảo quản và xử lý theo quy định của pháp luật;
- Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động ghi chữ Sam Sung, màu xanh ngọc, loại màn hình cảm ứng, mặt sau bị trầy xước đã cũ.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của kiểm sát viên và bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hồng T không nhận hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy cho Trương Hùng D. Bị cáo khẳng định lúc đầu vì chưa suy nghĩ chín chắn nên khai là bán ma túy cho D. Tuy nhiên sau 4 ngày tạm giữ bị cáo thay đổi lời khai không nhận mình mua ma túy để bán kiểm lời mà khẳng định vì vợ chồng bị cáo có mâu thuẫn và vì sức ép nợ nần nên bị cáo mua ma túy để sử dụng. Mặc dù, bị cáo thay đổi lời khai và không nhận tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản tự khai và biên bản lấy lời khai ban đầu của Thuận, lời khai của D phù hợp với nhau. Do đó có đủ căn cứ khẳng định bị cáo đang mang ma túy đi bán cho D, chưa kịp giao ma túy thì bị công an phát hiện. Nên cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 26/6/2022, tại đường Trần Hưng Đạo, khu phố 6, phường Lam Sơn, thị xã Bỉm Sơn, Tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về kinh tế - ma túy phối hợp với Đội CSGT trật tự xã hội Công an thị xã Bỉm Sơn phát bắt quả tang Nguyễn Hồng Tcó hành vi đang trên đường đi bán trái phép 06 viên ma túy tổng hợp có tổng trọng lượng 0,619 gam loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho Trương Hùng D để thu lời. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng T đã đủ yếu tố cấu thành tội " Mua bán trái phép chất ma túy" tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS
Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo không những xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây hậu quả rất nguy hiểm cho xã hội. Bởi ma túy là một loại chất gây nghiện, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, nòi giống, nhân cách, đạo đức và lối sống của con người. Ma túy chính là nguồn gốc để các loại tội phạm khác phát triển. Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma túy và pháp luật quy định xử lý rất nghiêm minh đối với loại tội phạm này. Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị phạt hành chính về hành vi đánh bạc và bị Tòa án xử phạt về tội “ Cố ý gây thương tích” nhưng không lấy đó làm bài học nay lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bản chất bị cáo là người khó cải tạo. Hơn nữa tại phiên tòa bị cáo không thành khẩn khai báo, không nhận phạm tội mua bán trái phép chất ma túy mà cho rằng bị cáo mang ma túy trong người để sử dụng. Việc bị cáo chối tội là không có cơ sở. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo không thành khẩn nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng khoản 5 Điều 251/BLHS để phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì niêm phong bên trong có chứa 04 viên nén hình tròn màu đỏ và 02 viên nén hình tròn màu xanh lá cây là ma túy có tổng khối lượng( trọng lượng) 0,619g loại Methamphetamine là các mẫu vật còn lại sau giám định.
- 01 điện thoại di động ghi chữ Sam Sung, màu xanh ngọc, loại màn hình cảm ứng, mặt sau bị trầy xước đã cũ là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Án phí HSST bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Khoản 1 Điều 251, Điều 38/BLHS
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng T phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy"
* Xử phạt: Nguyễn Hồng T 34( Ba mươi tư) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 26/6/2022.
* Xử lý tang vật: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự xử lý số tang vật của vụ án đã được bàn giao sang Chi cục Thi hành án theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 15/11/2022 giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bỉm Sơn cụ thể:
- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì niêm phong bên trong có chứa 04 viên nén hình tròn màu đỏ và 02 viên nén hình tròn màu xanh lá cây là ma túy có tổng khối lượng( trọng lượng) 0,619g loại Methamphetamine là các mẫu vật còn lại sau giám định.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động ghi chữ Sam Sung, màu xanh ngọc, loại màn hình cảm ứng, mặt sau bị trầy xước đã cũ.
* Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo buộc bị cáo Nguyễn Hồng T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm( 30/11/2022).
| Nơi nhận: - VKSND Thị xã Bỉm sơn; - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa - Nhà tạm giữ, tạm giam CA thị xã Bỉm Sơn - CQĐT Công an thị xã Bỉm Sơn - CQ Thi hành án hình sự - Bị cáo - Phòng giám đốc án; - THA Dân sự TX Bỉm sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TỐNG THỊ HÀ |