vanban.org

Bản án 69/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 25/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn W (Đô) phạm tội “Mua bán trái phép chất Xử phạt: Nguyễn Văn W (Đô) 04 (Bốn) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn W - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 69/2022/HS-ST
Ngày: 25-10-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Chân.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Văn Thanh;

- Ông Lê Châu Hùng.

Thư ký phiên tòa: Bà Oanh Đa Ra, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố K,

tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang tham gia

phiên tòa: Ông Dương Chí Cường, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố K xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 10

năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2022/QĐXXST-HS ngày 11

tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn W (Đô), sinh ngày 24/3/1997 tại thành phố K, tỉnh An

Giang; nơi cư trú: tổ 01, ấp Ch, xã VT, thành phố K, tỉnh An Giang; nghề

nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo:

không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1956 và bà

Nguyễn Thị D, sinh năm 1954; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ

nhất.

- Tiền án: Ngày 09/6/2020, Tòa án nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang,

kết án 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày

05/6/2021, chấp hành xong, chưa xóa án tích.

- Tiền sự: Không

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2022 cho đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn Th,

sinh năm 1956; nơi cư trú: tổ 01, ấp Ch, xã VT, thành phố K, tỉnh An Giang.

(Cómặt)

Người làm chứng: Ông Tô Tấn Ha, sinh năm 1982. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 15/6/2022, lực lượng Công an thành phố K và

Công an phường Ns, thành phố K, kiểm tra nhà Lê Văn Ron (tổ 21, khóm VP, phường Ns, thành phố K), phát hiện Nguyễn Văn W (trông giữ nhà cho Ron) đang cất giấu ma túy, thu giữ trên ghế phòng khách 01 vỏ bao thuốc lá hiệu BAYON, bên trong có 01 túi nhựa trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu xanh, chứa tinh thể màu trắng và 02 túi nhựa trong suốt, hàn kín, chứa tinh thể màu trắng cùng dụng cụ phân chia, sử dụng ma túy. Huệ khai ma túy đá mua của Đỗ Minh Đức, cất giấu để sử dụng và bán lại cho những người nghiện.

Vật chứng thu giữ: 01 túi nhựa trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền

màu xanh, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 02 túi nhựa trong suốt, hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (giám định ma túy, loại Methamphetamine); 01 túi nhựa trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu đỏ, chứa 18 túi nhựa trong suốt, hàn kín, một đầu bị hở; 02 ống thủy tinh; 01 kéo inox; 01 quẹt ga; 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt sọc trắng, một đầu hàn kín, một đầu vạc nhọn; 01 xe mô tô, Wave màu đen, biển số 66P1 - 768.34.

Căn cứ Kết luận giám định số 94/KL - KTHS (MT-GT) ngày 19/6/2022

của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, kết luận: Các Mẫu M1, M2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,3722 gam.

Ngày 23/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K khởi tố,

tạm giam Nguyễn Văn W để điều tra xử lý.

Tại Cáo trạng số 71/CT-VKSCĐ-HS ngày 07/10/2022 của Viện kiểm sát

nhân dân thành phố K đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn W về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).

Tại phiên tòa,

Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng

truy tố; xác định ma túy mua về phân lẻ bán lại cho con nghiện, phần dư lại sử dụng do bị cáo nghiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Th cung cấp lời

khai như đã khai trong giai đoạn điều tra.

Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người làm chứng ông Tô Tấn Ha

vắng mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên

tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố K truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1

Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng

pháp luật.

Ma túy có tác hại rất lớn đối với sức khỏe, tinh thần của người sử dụng.

Pháp luật cấm việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép ma túy

dưới mọi hình thức. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại

địa phương, là nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội và tội phạm. Cho nên, đề

nghị xử phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo.

Bị cáo có một tiền án, ngày 09/6/2020, Tòa án nhân dân thành phố K, tỉnh

An Giang, kết án 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,

đến ngày 05/6/2021, chấp hành xong, chưa xóa án tích. Do đó, bị cáo phải chịu

tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1

Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai

báo; bị cáo thuộc thành phần lao động, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Cho

nên, đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1,

khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị

cáo Nguyễn Văn W từ 03 (ba) đến 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép

chất ma túy”.

Về hình phạt bổ sung, áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đề nghị

phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm

2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với số ma túy còn lại sau giám định; 01 túi nhựa trong suốt, màu đầu

có rãnh khóa, viền màu đỏ, chứa 18 túi nhựa trong suốt, hàn kín, một đầu bị hở;

02 ống thủy tinh; 01 kéo inox; 01 quẹt ga; 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt sọc

trắng, một đầu hàn kín, một đầu vạc nhọn; đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô, Wave màu đen, biển số 66P1 - 768.34 (kèm giấy

chứng nhận đăng ký xe, mang tên Trần Văn Tuấn Em), đề nghị giao trả cho ông

Nguyễn Văn Th.

Đối với Đỗ Minh Đức bán ma túy cho Nguyễn Văn W; Lê Văn Ron nhờ

Huệ trông nhà, hiện Đức và Ron không có mặt tại địa phương Cơ quan điều tra

tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau; Nguyễn Văn Th đã cho Huệ mượn xe,

không biết Huệ sử dụng vào việc phạm tội, tuy không xử lý nhưng cần công

khai giáo dục tại phiên tòa.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, lời

nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt, nhưng đã có lời khai ở Cơ

quan điều tra, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong giai đoạn điều tra, nên việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Về hành vi bị truy tố của bị cáo, bị cáo Nguyễn Văn W khai nhận, Do

không có nghề nghiệp ổn định, nghiện ma túy, nên nảy sinh ý định mua ma túy để sử dụng và bán lại cho những người nghiện kiếm lời. Từ trước đến khi bị bắt, bị cáo mua ma túy của Đỗ Minh Đức được 02 lần: lần 1 vào đêm ngày 13/6/2022 với giá 700.000 đồng đã sử dụng hết; lần 2, khoảng 23 giờ ngày 14/6/2022, bị cáo Huệ điều khiển xe mô tô biển số 66P1 - 768.34 đến nhà của Đỗ Minh Đức mua 700.00 đồng ma túy đá, đem về nhà Lê Văn Ron, trực tiếp phân lẻ được 03 túi ma túy đá, cất giấu vào gói thuốc lá hiệu BAYON, để bán lại cho những người nghiện, nhưng chưa bán được thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Do gia đình Lê Văn Ron đi làm thuê ở Bình Dương, nhờ Huệ trông giữ nhà, việc Huệ sử dụng và phân lẻ ma túy để bán, gia đình Ron hoàn toàn không biết; xe mô tô biển số 66P1 - 768.34 của Nguyễn Văn Th (cha ruột Nguyễn Văn W) mua sử dụng trong gia đình, việc Huệ sử dụng vào việc phạm tội, Th không biết.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo

trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập và thẩm tra tại phiên tòa như: Kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ liên quan khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ các căn cứ trên có cơ sở xác định, bị cáo đã có hành vi mua bán trái

phép chất ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng 1,3722 gam.

Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được

việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn W đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố K truy tố bị

cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân

dân thành phố K đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội

và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, ma tuý là chất gây nghiện, là

nguyên nhân làm suy giảm sức khỏe. Tệ nạn ma tuý còn được xem là nguyên

nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, tội phạm, ảnh hưởng nghiêm trọng trật tự,

an toàn xã hội.

Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy từ năm 2017, nên bị cáo quen biết

nhiều người nghiện. Vì để có tiền mua ma túy sử dụng, bị cáo đã có hành vi mua

bán trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là sự tiếp

tay cho lượng người nghiện ma túy ngày càng tăng, làm ảnh hưởng lớn đến công

tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà Nhà nước, xã hội đang ra sức thực

hiện. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để

đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Về nhân thân, bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được

xóa án tích, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vì

vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo

điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo thuộc thành phần lao động, hiểu biết pháp luật

có phần hạn chế; trong quá trình điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo

đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, áp

dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền 20.000.000 (hai mươi triệu)

đồng đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo còn lại sau giám

định là vật cấm lưu hành; 01 túi nhựa trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền

màu đỏ, chứa 18 túi nhựa trong suốt, hàn kín, một đầu bị hở; 02 ống thủy tinh;

01 kéo inox; 01 quẹt ga; 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt sọc trắng, một đầu hàn

kín, một đầu vạc nhọn không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô, Wave màu đen, biển số 66P1 - 768.34 (kèm giấy

chứng nhận đăng ký xe, mang tên Trần Văn Tuấn Em) của ông Th mua, chưa

sang tên chủ sở hữu. Xét ông Th không biết bị cáo Huệ dùng vào việc phạm tội và

xin nhận lại xe do đó giao trả cho ông Th là phù hợp.

Các vấn đề khác: Đối với Đỗ Minh Đức bán ma túy cho Nguyễn Văn

W; Lê Văn Ron nhờ Huệ trông nhà, hiện Đức và Ron không có mặt tại địa

phương Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau; Nguyễn Văn Th đã cho Huệ mượn xe, không biết Huệ sử dụng vào việc phạm tội, tuy không xử lý nhưng cần công khai giáo dục tại phiên tòa.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng

cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều

51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn W (Đô) phạm tội “Mua bán trái phép chất

ma túy”;

Xử phạt: Nguyễn Văn W (Đô) 04 (Bốn) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt,

tạm giữ, tạm giam ngày 15/6/2022 (ngày mười lăm, tháng sáu, năm hai nghìn không trăm hai mươi hai).

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn W (Đô) 20.000.000 (Hai

mươi triệu) đồng sung ngân sách Nhà nước.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ

luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong (ghi vụ số:

94/KLGĐ-PC09(MT) ngày 19/6/2022) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ Hà, Nguyễn Văn Ây; 01 túi nhựa trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu đỏ, chứa 18 túi nhựa trong suốt, hàn kín, một đầu bị hở; 02 ống thủy tinh; 01 kéo inox; 01 quẹt ga; 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt sọc trắng, một đầu hàn kín, một đầu vạc nhọn

Giao trả cho ông Nguyễn Văn Th 01 xe mô tô, Wave màu đen, biển số

66P1 - 768.34 (kèm giấy chứng nhận đăng ký xe, mang tên Trần Văn Tuấn Em).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công

an thành phố K với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố K).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn W phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án

phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Nguyễn Văn W, người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Th có quyền kháng cáo để yêu

cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ