vanban.org

Bản án 69/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương Tuyên án 05/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh Q1 phạm tội “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q1 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thanh Q1 cho Uỷ ban nhân dân xã Bạch Đằng, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Q1 - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh Q1 phạm tội “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KINH MÔN
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2022/HS-ST
Ngày: 05-9-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Đức Huấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Dựng;

2. Bà Nguyễn Thị Tin.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thăng Long - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Long - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2022/TLST-HS ngày 05/8/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2022/QĐXXST-HS ngày 22/8/2022 với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thanh Q1 (tên gọi khác: C2), sinh năm 1970 tại thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn ĐU, xã BĐ, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh Đ1 và bà Nguyễn Thị C1; gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ ba; có vợ là Nguyễn Thị A1 và 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn C3, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn BT, BL, TĐ, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Anh Trần Văn N2, anh Nguyễn Văn N3, ông Cao Thọ T2, bà Nguyễn Thị T3, chị Tống Thị H4, chị Nguyễn Thị A1. Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do trước đây anh Nguyễn Văn C3 cùng anh Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1986 nhận làm trang trí phòng hát Karaoke Đồi 123 và đã nhận tạm ứng số tiền 195.000.000đ của Nguyễn Thanh Q1 nhưng chưa làm xong, khoảng 09 giờ ngày 21/6/2019, Nguyễn Thanh Q1 rủ anh Nguyễn Văn Nam, sinh năm 1972, trú tại: Thôn Kim Lôi, xã Bạch Đằng, thị xã Kinh Môn đi đến Trường Trung học phổ thông Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tìm gặp anh Nguyễn Văn C3 để đòi tiền, anh Nam đồng ý. Quảng bảo anh Nam điều khiển xe ôtô biển số 34D1-010.19 của Quảng chở Quảng đi. Khi đi đến cầu Chương Dương, thành phố Hà Nội do không biết đường nên Quảng gọi điện nhờ bạn là anh Cao Thọ Tấn, sinh năm 1969, trú tại: Số 4 Tôn Đức Thắng, phường Cát Linh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội dẫn đến trường Trung học phổ thông Xuân Đỉnh, Tấn đồng ý và cho địa chỉ để Quảng đón. Sau khi đón được anh Tấn, trên đường đi Quảng nói với anh Tấn: “Tôi thuê hai thằng cháu sửa nội thất phòng hát ứng tiền cho chúng nó, nhưng chúng nó không làm, nghe anh em nói nó đang làm ở Trường Trung học Xuân Đỉnh, bạn biết chỗ dẫn tôi đến đó”.

Khoảng 14 giờ cùng ngày, anh Nam chở Quảng và anh Tấn đến công trường đang xây dựng Trường Trung học phổ thông Xuân Đỉnh thì Quảng và anh Tấn xuống xe còn anh Nam ngồi ở xe chờ. Quảng và anh Tấn đi vào trong lán nghỉ của công nhân trong công trường xây dựng tìm Anh C3, Quảng mở điện thoại cho Tấn xem ảnh của Anh C3 rồi cùng đi tìm Anh C3. Tấn đi đến lán nghỉ của công nhân cạnh sân bóng đá nhân tạo của Trường Trung học phổ thông Xuân Đỉnh phát hiện thấy Anh C3, Tấn hỏi: “Có phải Chiến không ra ngoài có người gặp”, nghe xong Anh C3 nói: “đúng rồi” sau đó Anh C3 đi ra cửa lán, Tấn chỉ tay về phía Quảng nói: “Có biết ai đây không?” Anh C3 trả lời “Cháu chào ông Chính”. Quảng hỏi Anh C3 “Sao tao điện cho hai thằng mày không thằng nào trả lời”. Anh C3 thanh minh “Cháu có tắt máy đâu”, Quảng nói tiếp “Bây giờ mày theo tao về Hải Dương làm lại, nếu không đối chiếu hoàn công” Anh C3 trả lời: “Cháu không đi”, Quảng nói: “không đi tao đập mày chết”. Anh C3 nói: “cho cháu mặc bộ quần áo”, nghe xong Quảng nói “không phải mặc”. Anh C3 xin vào trong lán để mặc quần áo thì Quảng nói “cho mày mặc cái áo”, Anh C3 trả lời: “cho cháu mặc cái quần nữa” Quảng nói “không phải mặc”, Anh C3 nói “cho cháu mặc cái quần cho nó đàng hoàng” Quảng không đồng ý, nhờ anh Trần Văn Ninh, sinh năm 1994, trú tại: Thôn Tân Tiến, xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc (là người làm cùng Anh C3 đang ở trong lán) lấy quần, áo mang ra cửa lán cho Anh C3. Anh C3 xin vào trong lán để thay quần áo nhưng Quảng không cho mà yêu cầu Anh C3 phải thay tại chỗ. Anh C3 mặc thêm quần áo xong, Quảng nói: “đi theo tao về Hải Dương”, Anh C3 trả lời “không đi”, Quảng nói: “không đi tao đập một phát mày chết”, thấy Quảng có lời nói đe doạ như vậy, Anh C3 sợ bị Quảng đánh nên đi theo Quảng và Tấn ra xe ô tô của Quảng chờ ở ngoài cổng. Anh Ninh thấy Anh C3 bị ép đi theo Quảng liền gọi điện thoại thông báo cho mẹ đẻ Anh C3 là bà Nguyễn Thị Tiếp, sinh năm 1967, trú tại: Thôn BT, BL, TĐ, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi Anh C3 lên xe thì Quảng lái xe chạy thẳng về Ủy ban nhân dân xã Bạch Đằng, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương rồi Quảng đưa Anh C3 vào phòng Công an xã Bạch Đằng làm việc liên quan đến việc Anh C3 cùng Anh Đ2 nhận tiền nhưng không chịu thực hiện thi công phòng hát Karaoke Đồi 123 theo nội dung hợp đồng đã ký kết, còn anh Nam và Tấn về nhà Quảng trước.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Anh C3 gọi điện cho bà Tiếp nói: “mẹ ơi mang tiền cứu con, ông Chính cho người bắt con ở công trường về nhà ông ấy rồi”. Nghe xong bà Tiếp nói: “ông ấy bắt mày làm gì”, anh Chiến nói “thì vẫn cái việc của Anh Đ2 đấy, bây giờ không tìm được Anh Đ2 mẹ lo tiền mang trả ông ấy để con về”. Sau đó, Quảng gọi điện cho bà Tiếp nói: “chị có phải mẹ Chiến không, vừa rồi Chiến nó đi làm với Đạt có lấy của tôi 190.000.000 đồng giờ Chiến phải hoàn trả cho tôi những gì đã mất thì tôi mới cho con chị về”. Nghe xong bà Tiếp nói: “anh cứ bình tĩnh, anh đã giữ cháu thì cứ để cháu ở đấy, con tôi làm công cho thằng Đạt giờ anh giữ nó ở đấy thì thế nào” Quảng đáp “tôi chả biết thằng Đạt là ai cả tôi đưa cho con chị 190.000.000đ con nhà chị bỏ trốn”. Bà Tiếp nói: “thôi anh bảo như vậy, nhưng con tôi nói không lấy đồng nào của anh”, rồi tắt máy. Sau khi làm việc xong, Anh C3 xin Quảng về nhưng Quảng không đồng ý và nói “mày phải ở lại với tao tối nay ăn ngủ ở đấy, mai bảo bố mẹ mày xuống”, nghe xong Anh C3 nói “thôi cho cháu về”, Quảng nói: “Cho mày về ngang tao thả hổ về rừng à, bây giờ ra xe về nhà tao”. Sau đó Quảng đưa Anh C3 về quán Karaoke Đồi 123 yêu cầu Anh C3 ở đó chờ gia đình mang tiền xuống trả cho Quảng thì Quảng mới đồng ý cho Anh C3 về.

Đến tối ngày 22/6/2019, bà Tiếp đến Công an huyện Kinh Môn (nay là Công an thị xã Kinh Môn) trình báo việc anh Nguyễn Văn C3 bị bắt giữ.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ của Nguyễn Thanh Q1: 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, màu trắng, biển số 34D1- 010.19, trong xe ô tô có 01 đoạn xích sắt dài 160cm, một đầu vòng tròn kim loại đường kính 06cm, một đầu hình dạng móc khóa kích thước 10cm; 01 chiếc xẻng bằng sắt dài 60cm, cán bằng sắt, lưỡi xẻng dài 21cm, bề rộng lưỡi 15cm; 01 thẻ nhớ Sandisk dung lượng 32GB trong Camera hành trình xe ô tô biển số 34D-010.19 cùng giấy tờ của xe ô tô, gồm: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 34D -010.19; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kinh Môn sao trích dữ liệu từ đầu thu Camera của quán Karaoke đồi 123 vào 01 USB nhãn hiệu Kingtone màu đen có dung lượng 16GB có các tệp tin video ghi lại thời gian từ hồi 22 giờ 10 phút ngày 21/6/2019 đến hồi 22 giờ 00 ngày 22/6/2019 tại phòng ăn, phòng chờ, gian quầy bán hàng quán Karaoke Đồi 123.

Tại kết luận giám định số 6806/C09-P6 ngày 23/12/2019 của Viện khoa học hình sự-Bộ Công an kết luận: USB nhãn hiệu Kingtone màu đen có dung lượng 16GB ghi lại thời gian từ hồi 22 giờ 10 phút ngày 21/6/2019 đến hồi 22 giờ 00 ngày 22/6/2019 tại phòng ăn, phòng chờ, gian quầy bán hàng quán Karaoke Đồi 123 do Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thị xã Kinh Môn sao trích dữ liệu từ đầu thu Camera của quán Karaoke Đồi 123 gửi giám định có 28 tệp video, không tìm thấy dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong 28 tệp video gửi giám định. Hoàn lại toàn bộ mẫu vật đã gửi giám định.

Tại kết luận giám định số 3362/C09-P6 ngày 22/6/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an kết luận: 01 thẻ nhớ Sandisk dung lượng 32GB trong Camera hành trình của xe ô tô biển số 34D-010.19 không tìm thấy dữ liệu ngày 21/6/2019. Hoàn lại toàn bộ đối tượng gửi giám định.

Tại kết luận giám định số 9157/C09-P6 ngày 21/01/2022 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an kết luận: 01 thẻ nhớ Sandisk dung lượng 32GB trong Camera hành trình của xe ô tô biển số 34D-010.19 tìm thấy 123 tệp video, các tệp video được khởi tạo vào các ngày 02/5/2019, 04/5/2019, 05/5/2019, 06/5/2019. Không tìm thấy video ngày 21/6/2019 trong thẻ nhớ gửi giám định. Hoàn lại toàn bộ đối tượng gửi giám định.

Tại Cáo trạng số: 75/CT-VKS ngày 26/7/2022, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Q1 về tội “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật” quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà:

- Đại diện VKSND thị xã Kinh Môn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Q1 phạm tội “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật”. Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của BLHS; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh Q1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo; về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét; về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Nguyễn Thanh Q1: 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, biển số 34D1- 010.19 cùng giấy tờ liên quan, 01 thẻ nhớ Sandisk. Lưu hồ sơ: 01 USB 16GB; về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận Quyết định truy tố của VKSND thị xã Kinh Môn về tội danh đối với bị cáo là đúng. Bị cáo xác định do bức xúc trong việc Đạt và Chiến nhân tiền thi công quán Karaoke nhưng không chịu thi công nên đã có hành vi giữ Chiến để giải quyết công việc; bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến và chú ruột là Liệt sĩ (gia đình bị cáo thờ cúng) nên đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất; đối với chiếc xe ô tô cùng các tài liệu, giấy tờ liên quan, 01 thẻ nhớ Sandisk do không trực tiếp liên quan đến hành vi phạm tội nên bị cáo xin được nhận lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Kinh Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn trong việc thực hiện hợp đồng thi công quán Karaoke Đồi 123, khoảng 14 giờ ngày 21/6/2019, tại Trường Trung học phổ thông Xuân Đỉnh thuộc phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thanh Q1 đã có hành vi dùng lời nói đe dọa, buộc anh Nguyễn Văn C3 lên xe ô tô biển số 34D1-010.19 rồi đưa về chỗ ở của Quảng thuộc thôn Chợ Lữ, xã Bạch Đằng, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, đến chiều ngày 22/6/2019 thì Quảng đưa Anh C3 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thị xã Kinh Môn làm việc.

. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi khống chế, không cho anh Nguyễn Văn C3 vượt ra ngoài sự kiểm soát của mình là vi phạm pháp luật song với mục đích để giải quyết số tiền đã tạm ứng trang trí phòng hát Karaoke Đồi 123 bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cầu thành tội “Bắt, giữa hoặc giam người trái pháp luật” quy định tại khoản 1 Điều 157 của BLHS. Như vậy, Quyết định truy tố của VKSND thị xã Kinh Môn đối với bị cáo là có căn cứ.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền tự do thân thể, quyền tự do đi lại của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần xử mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

. Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa bị xử lý hành chính hoặc bị kết án.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, hành vi phạm tội của bị cáo là lần đầu, tội phạm thực hiện là tội ít nghiêm trọng, bị cáo có bố đẻ là người có công, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến và có chú ruột là Liệt sĩ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS. HĐXX sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên HĐXX không xem xét.

. Về xử lý vật chứng: 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, màu trắng, biển số 34D1- 010.19 cùng giấy tờ liên quan, gồm: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện, 01 đoạn xích sắt dài 160cm, 01 chiếc xẻng bằng sắt dài 60cm, 01 thẻ nhớ Sandisk dung lượng 32GB là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến tội phạm, không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên được trả lại.

Đối với 01 USB nhãn hiệu Kingtone màu đen, dung lượng 16GB chứa dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án nên được lưu trong hồ sơ.

. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Trong vụ án này, Nguyễn Thanh Q1 rủ anh Nguyễn Văn Nam và nhờ anh Cao Thọ Tấn dẫn đến Trường Trung học phổ thông Xuân Đỉnh thuộc phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội để tìm Anh C3 nhưng anh Nam và anh Tấn không có lời nói, hành động gì giúp sức cho Quảng bắt, giữ Anh C3. Tài liệu điều tra không đủ căn cứ chứng minh anh Nam, anh Tấn là đồng phạm trong vụ án, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thị xã Kinh Môn không đặt ra việc xử lý đối với anh Nam và Tấn là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh Q1 phạm tội “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q1 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh Q1 cho Uỷ ban nhân dân xã Bạch Đằng, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú hoặc thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Trả lại bị cáo Nguyễn Thanh Q1: 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, màu trắng, biển số 34D1- 010.19 cùng giấy tờ liên quan, gồm: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện; 01 đoạn xích sắt dài 160cm; 01 chiếc xẻng bằng sắt dài 60cm; 01 thẻ nhớ Sandisk dung lượng 32GB (Thẻ Sandisk và các giấy tờ liên quan đang lưu tại hồ sơ).

Lưu hồ sơ vụ án 01 UBS nhãn hiệu Kingtone màu đen, dung lượng 16GB chứa dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kinh Môn và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn ngày 18/8/2022).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Điều 6; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về… án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc bị cáo Nguyễn Thanh Q1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ