- Tranh chấp gì? án hình sự — "HÙng - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2022/HS-ST Ngày: 28 – 12 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Á
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Cho
Ông Trần Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Panal - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
- TRẦN VĂN H - sinh năm 1958; tên gọi khác: Không có; nơi sinh: Tại Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: Số aa tổ 20 khóm Trung Hưng, phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị A (đã chết); Bị cáo có vợ tên Phạm Thị B và 02 người con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại đang tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Đặng Hoàng T, sinh năm: 1994 (đã chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại: Đặng Văn T, bà Lư Thị Mai H. Ông T, bà H ủy quyền cho Đặng Hoàng T, sinh năm: 1993, địa chỉ: Ấp A, thị trấn Cái Tắc, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Phan Huỳnh T, sinh năm 1972
Địa chỉ: Số bb0 tổ 22 khóm An Hưng, phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (Có mặt)
Ông Sơn Trọng P, sinh năm 2003,
Địa chỉ: Ấp P, xã Tân H, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ 50 phút ngày 24/6/2022, Trần Văn H điều khiển xe ô tô tải, biển kiểm soát 67H-014.82 lưu thông trên tuyến Quốc lộ 61C theo hướng từ thành phố Vị Thanh đi thành phố Cần Thơ. Khi đi qua đoạn đường thuộc ấp 3A, xã Tân Hòa, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang (Khu dân cư Bốn Ngàn), Trần Văn H nhằm là đường Bốn Tổng Một Ngàn nên H điều khiển xe đi qua lộ Bốn Tổng - Một Ngàn để đi về thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, do H chạy xe vượt quá đoạn đường cần rẽ trái nên H cho xe chuyển hướng quay đầu lại, lúc này H chuyển hướng xe sang bên trái do chưa hết lái nên tiếp tục đánh lái sang phải lùi xe cho hết lái để quay đầu xe lại hướng đi Vị Thanh. Lúc này, anh Đặng Hoàng T điều khiển xe môtô biển kiểm soát 84H1-496.15 (xe do Sơn Trọng Phúc, sinh năm 2003 đứng tên đã bán lại cho Đặng Hoàng T nhưng chưa làm thủ tục đăng ký sang tên chủ sở hữu) đi từ thành phố Vị Thanh đến thành phố Cần Thơ chạy đến va chạm vào hông xe bên trái phía sau của xe ôtô tải dẫn đến anh T tử vong.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện (bút lục 5-7): Đoạn đường xảy ra tai nạn có mặt đường rộng 10m, được trải nhựa, có vạch kẻ phân chia làn đường ở giữa không liên tục. Chọn trụ cột tiêu H5/18 làm điểm chuẩn, chọn hướng xe lưu thông từ thành phố Vị Thanh đi thành phố Cần Thơ làm hướng chuẩn. Chọn mép đường bên phải từ thành phố Vị Thanh đi thành phố Cần Thơ làm mép đường chuẩn.
Xe môtô, biển kiểm soát 84H1-496.15; đầu xe hướng về thành phố Cần Thơ, đuôi xe hướng về thành phố Vị Thanh, yên xe hướng lên trời. Từ tâm trục trước do vuông góc vào mép đường chuẩn là 3m20, từ tâm trục sau đó vào mép đường chuẩn là 3m60, từ tâm trục sau do đến tâm trục sau xe ôtô tải, biên kiểm soát 67H-014.82 mép bên trái là 1m40.
Từ tâm trục sau xe môtô đo đến đầu nạn nhân là 0m85, từ đầu nạn nhân đo vào mép đường chuẩn là 4m60, vết máu loang từ đầu nạn nhân dài 1m, ngang 0m40, đo từ vết máu vào mép đường chuẩn là 5m.
Điểm đụng là hông xe bên trái phía sau nằm ngang trục sau xe ôtô tải, từ điểm đụng đo vào mép đường chuẩn là 3m40.
Xe ôtô tải, biển kiểm soát 67H-014.82: đầu xe hướng vào mép lề trái, đuôi xe hướng vào mép đường chuẩn. Từ tâm trục sau đo vào mép đường chuẩn là 02m, từ tâm trục trước đo vào mép đường chuẩn là 6m.
Từ tâm trục sau bên phải xe ôtô đo đến mũ bảo hiểm là 5m15, từ mũ bảo hiểm đo vào mép đường chuẩn là 4m50.
Tại Biên bản về việc kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở do Công an huyện Châu Thành A lập lúc 01 giờ 55 phút ngày 24/6/2022 đối với Trần Văn H thể hiện không có nồng độ cồn trong hơi thở (bút lục 32-33). Đối với Trần Văn H có Giấy phép lái xe hạng D đủ điều kiện điều khiển xe ôtô tải, biển kiểm soát 67H-014.82 (bút lục 101-102, 114).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 79/22/TgT ngày 06/7/2022 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Hậu Giang đối với Đặng Hoàng T kết luận (bút lục 58-59):
“1. Dấu hiệu chính qua giám định: Đa chấn thương, vết thương phần mềm; Gãy vỡ đa xương; Tụ huyết dưới da vùng chẩm; Vỡ xương hộp sọ từ thái dương phải qua chẩm và thái dương trái; Tiểu não bị dập và xuất huyết.
2. Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não. Nồng độ cồn trong máu 1,65g/L”.
Nguyên nhân chính dẫn vụ tai nạn giao thông làm cho Đặng Hoàng T tử vong là do ông Trần Văn H điều khiển xe ôtô tải, biển kiểm soát 67H-014.82 chuyển hướng, quay xe không đảm bảo an toàn, đã vi phạm quy định khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ.
Về vật chứng: Một xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, biển kiểm soát 84H1-496.15; Một xe ôtô tải và một giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô tải, biển kiểm soát 67H-014.82; Một giấy phép lái xe hạng D mang tên Trần Văn H; Một giấy chứng nhận kiểm định xe ôtô tải, biển kiểm soát 67H-014.82. Tất cả đang tạm giữ theo quy định (bút lục 110).
Về phần dân sự: Đại diện bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường, khắc phục hậu quả với số tiền 258.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường, khắc phục 145.000.000 đồng còn 113.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 62/CT-VKS-HCTA ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Trần Văn H về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường, khắc phục hậu quả tổng số tiền 178.000.000 đồng, đã đưa trước 145.000.000 đồng còn 33.000.000 đồng chưa giao. Nay đại diện gia đình bị hại yêu cầu bị cáo giao đủ số tiền còn lại 33.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại tổng số tiền 178.000.000 đồng, đã đưa trước 145.000.000 đồng, bị cáo đồng ý tiếp bồi thường thêm số tiền 33.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, ông Phan Huỳnh Trung trình bày: Nguồn tiền bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại là do ông nhận tiền từ bảo hiểm xe ô tô tải, ông không yêu cầu bị cáo trả lại.
Tại phiên tòa, ông Sơn Ngọc P trình bày: Xe Exciter biển kiểm soát 84H1-496.15 do ông đứng tên đã bán lại cho Đặng Hoàng T sử dụng nên không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Văn H về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi gây tai nạn bị cáo cùng ông Phan Huỳnh T tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại, gia đình bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; trong thời gian tại ngoại bị cáo không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật. Vì vậy, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 36 tháng – 48 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/12/2022).
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho ông Phan Huỳnh T 01 (một) xe ô tô tải và 01 (một) giấy đăng ký xe ô tô tải và 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô tải, biển kiểm soát 67H - 014.82;
Trả lại bị cáo Trần Văn H 01 (một) giấy phép lái xe, hạng D.
Trả lại gia đình bị hại do Đặng Hoàng T đại diện 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha – Exciter, biểm kiểm soát 84H1- 496.15 do Sơn Ngọc P đứng tên chủ sở hữu;
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường số tiền 33.000.000 đồng cho gia đình bị hại.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, đây là công việc nguồn thu nhập chính của bị cáo, ngoài công việc này bị cáo không có công việc gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không cấm đảm nhiệm công việc của bị cáo.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo nên xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành A; Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A; Điều tra viên; kiểm sát viên đã thực hiện theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Văn H thừa nhận hành vi bị cáo thực hiện. Đối chiếu lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở chứng minh được như sau: Vào khoảng 00 giờ 50 phút ngày 24/6/2022, Trần Văn H điều khiển xe ôtô tải, biển kiểm soát 67H-014.82 lưu thông trên tuyến Quốc lộ 61C theo hướng từ thành phố Vị Thanh đi thành phố Cần Thơ. Khi đến đoạn đường thuộc ấp 3A, xã Tân Hòa, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang, Trần Văn H chuyển hướng xe sang trái để quay đầu xe, khi quay đầu do chưa lấy hết lái nên H tiếp tục đánh lái sang phải lùi xe lại cho hết lái để quay đầu xe. Lúc này, xe môtô biển kiểm soát 84H1-496.15 do anh Đặng Hoàng T điều khiển chạy từ hướng thành phố Vị Thanh đến thành phố Cần Thơ chạy đến va chạm vào tH xe bên trái phía sau của xe ôtô tải. Hậu quả: Làm anh Đặng Hoàng T tử vong tại chỗ.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 79/22/TgT ngày 06/7/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Hậu Giang đã giám định và kết luận: Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự như luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người đúng tội.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã. Bị cáo có năng lực hành vi, nhận thức được khi tham gia giao thông phải tuân thủ quy định Luật giao thông đường bộ, cụ thể tại khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định “Trong khi chuyển hướng, người lái xe phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác” nhưng bị cáo đã không làm đúng quy định nêu trên mà đã cho xe tải quay đầu. Kết quả va chạm làm Đặng Hoàng T tử vong tại chỗ. Tuy nhiên, lỗi một phần do lỗi của bị hại, khi tham gia giao thông không có giấy phép lái xe, sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông.
Như vậy, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại; ông Đặng Hoàng T (Đại diện theo theo ủy quyền của Đặng Hoàng T) có đơn xin giảm nhẹ hình sự cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Vì vậy, Hội đồng xét xử khi lượng hình cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; có nhân thân tốt, trong thời gian tại ngoại bị cáo không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao cho gia đình và địa phương quản lý cũng đủ sức răn đe, giáo dục đồng thời tạo điều kiện để bị cáo lao động kiếm thêm thu nhập.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại phiên Tòa đại diện đình bị hại yêu cầu số tiền 178.000.000 đồng đã đưa trước 145.000.000 đồng còn 33.000.000 đồng. Bị cáo Trần Văn H đồng ý bồi thường thêm số tiền 33.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của hai bên.
Trong quá trình điều tra, truy tố người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Huỳnh T không yêu cầu bị cáo Trần Văn H trả lại số tiền ông đã bồi thường cho gia đình bị hại nên không xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
Trong quá trình điều tra, truy tố người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Sơn Ngọc P không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho ông Phan Huỳnh T 01 (một) xe ô tô tải và 01 (một) giấy đăng ký xe ô tô tải và 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô tải, biển kiểm soát 67H - 014.82;
Trả lại bị cáo Trần Văn H 01 (một) giấy phép lái xe, hạng D.
Trả lại gia đình bị hại do Đặng Hoàng T đại diện 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha – Exciter, biểm kiểm soát 84H1- 496.15 do Sơn Ngọc P đứng tên chủ sở hữu;
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, xét đây là công việc và nguồn thu nhập chính của bị cáo, ngoài công việc này bị cáo không có công việc gì khác nên để tạo điều kiện cho bị cáo lao động tạo ra nguồn thu nhập nuôi gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử không cấm đảm nhiệm công việc đối với bị cáo.
Từ những phân tích nêu trên xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Do bị cáo trên 60 tuổi và có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ quy định pháp luật, miễn án phí hình sự và án dân sự cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 15 Luật giao thông đường bộ.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/12/2022). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn H.
2. Giao bị cáo Trần Văn H cho Ủy ban nhân dân phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang quản lý và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Trần Văn H cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bị cáo Trần Văn H bồi thường số tiền 33.000.000 đồng cho gia đình bị hại Đặng Hoàng T.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.
Ông Phan Huỳnh T không yêu cầu bị cáo Trần Văn H trả lại số tiền ông đã bồi thường cho gia đình bị hại nên không xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
Ông Sơn Ngọc P không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không xem xét, giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho ông Phan Huỳnh T 01 (một) xe ô tô tải và 01 (một) giấy đăng ký xe ô tô tải và 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô tải, biển kiểm soát 67H - 014.82;
Trả lại bị cáo Trần Văn H 01 (một) giấy phép lái xe, hạng D.
Trả lại gia đình bị hại do Đặng Hoàng T đại diện 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha – Exciter, biểm kiểm soát 84H1- 496.15 do Sơn Ngọc P đứng tên chủ sở hữu;
5. Về án phí: Áp dụng điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Trần Văn H được miễn án phí sơ thẩm.
6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Đại diện hợp pháp của bị hại Thịnh có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần liên quan đến mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND tỉnh Hậu Giang; - Công an huyện Châu Thành A; - CQ THA DS h.Châu Thành A; - VKSND h.Châu Thành A; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Võ Văn Cho Trương Ngọc Điệp | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Mỹ Á THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Á |