- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2022/HNGĐ-ST Ngày: 24/01/2022 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lại Thị Đắc 2. Ông Đoàn Văn Rỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào - Thư ký Tòa án nhân dân quận 8, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận 8, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận 8, thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số 791/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 06 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà A; địa chỉ: đường M, phường C, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông T; địa chỉ: đường H, phường K, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai trong hồ sơ, nguyên đơn là bà A trình bày như sau: Bà và ông T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn. Thời gian chung sống lúc đầu có hạnh phúc nhưng đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẩn vì chồng không lo làm ăn, không phụ lo cho con nên từ đó vợ chồng sống ly thân. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Bà và ông T có một con chung tên D, sinh ngày 12/3/2016, hiện nay bà đang nuôi con, bà yêu cầu cho bà tiếp tục trực tiếp nuôi con, bà yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.500.000 đồng; Về tài sản chung thì bà không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là ông T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án để giải quyết nên không có lời khai.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận 8: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà A có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn. Xét thấy, bị đơn đang cư trú tại Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận 8, thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên phiên tòa tiến hành theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự .
Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 47, quyển số 01/2015 ngày 17/3/2015 của Ủy ban nhân dân phường 12, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh thì bà A và ông T có quan hệ vợ chồng. Tuy chỉ căn cứ vào lời khai của bà A nhưng từ ngày khởi kiện đến nay đã lâu bà A vẫn yêu cầu xin ly hôn, điều này cho thấy mâu thuẩn vợ chồng là có thật và tình trạng hôn nhân đã trầm trọng; riêng bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, cho thấy bị đơn không quan tâm đến kết quả giải quyết vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn.
Về yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung.
Căn cứ bản sao trích lục khai sinh thì vợ chồng có một con chung tên D, sinh ngày 12/3/2016. Xét thấy, bà A đang nuôi con và con chung chỉ đủ 5 tuổi, giới tính nữ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi con của bà Anh.
Về việc cấp dưỡng cho con: Theo quy định thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, bà A yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.500.000 đồng. Xét thấy, mức cấp dưỡng mà bà A yêu cầu phù hợp với nhu cầu cần thiết nuôi dưỡng một người con nên chấp nhận.
Về việc chia tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí Tòa án: Bà A là nguyên đơn trong vụ án tranh chấp ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng; Ông T là người phải cấp dưỡng cho con nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118, 119 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn.
Quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
(Giấy chứng nhận kết hôn số 47, quyển số 01/2015 ngày 17/3/2015 của Ủy ban nhân dân phường 12, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật)
[2] Về việc nuôi con:
Bà A được trực tiếp nuôi con tên D, sinh ngày 12/3/2016;
Buộc ông T cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.500.000 (hai triệu năm trăm ngàn) đồng. Thời gian cấp dưỡng từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con đủ 18 tuổi; thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bà A có đơn yêu cầu thi hành việc cấp dưỡng, nếu ông T chậm thi hành thì ông T còn phải trả cho bà A khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành.
Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con, không ai được cản trở.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng cho con.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu giải quyết.
[4] Về án phí Tòa án:
Bà A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0044353, ngày 07/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận 8; bà A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
[5] Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bên được thi hành án dân sự, bên phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - UBND phường 12, quận 6; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Hoàng |