- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội;
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2022/HNGĐ-ST Ngày: 05-7-2022 V/v: “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà:
Ông Nguyễn Duy Đạt
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Ngô Thị Quốc Thanh
Bà Đoàn Thị Mến
-Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thị Kim Thùy-Thư ký TAND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Rư-Kiểm sát viên.
Ngày 05-7-2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 72/2022/TLST-HNGĐ ngày 10/3/2022 về “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/5/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16/6/2022, giữa:
-Nguyên đơn: Ông Lại Văn A, sinh năm 1980; nơi cư trú: Ấp 1, xã 2, huyện 3, tỉnh Đồng Nai; (vắng mặt)
-Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích B, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp 3, xã 2, huyện 1, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lại Văn A trình bày:
Về hôn nhân: Ông A và bà Nguyễn Thị Bích B tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2020, được UBND xã 2, huyện Xuyên Mộc cấp chứng nhận kết hôn số 191, ngày 09/7/2020; hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, có tổ chức hỏi, cưới. Sau khi lấy nhau cả hai về chung sống tại Ấp 1, xã 2, huyện 3, tỉnh Đồng Nai;
Ông A và bà B chung sống hạnh phúc đến tháng 10/2021 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp dẫn đến thường xuyên xảy ra tranh cãi, bà B thường xuyên bỏ nhà đi dẫn đến vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc. Từ tháng 11/2021 bà B đã dẫn theo con chung bỏ về tổ 7, ấp 7, xã 2 sống và vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Nhận thấy vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không có nên ông A yêu cầu được ly hôn với bà B.
Về con chung: Ông A và bà B có 01 con chung tên Lại Ngọc AB, sinh ngày 09/3/2020, hiện đang sống cùng bà B. Ông A yêu cầu giao con chung cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng, ông A tự nguyện cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.000.000 đồng; thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày Bản án, Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, hoặc đến khi có căn cứ pháp lý làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông A không yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Bị đơn bà Nguyễn Thị Bích B vắng mặt trong quá trình tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến;
3.Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Việc Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc thụ lý vụ án là đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, HĐXX cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án này đúng theo những quy định của BLTTDS.
Về nội dung: Về yêu cầu của nguyên đơn thì thấy, hôn nhân giữa ông A và bà B là hôn nhân hoàn toàn hợp pháp, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa hai bên đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông A. Ông A và bà B có 01 con chung tên Lại Ngọc AB, sinh ngày 09/3/2020, hiện đang sống cùng bà B. Ông A yêu cầu giao con chung cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng, ông A tự nguyện cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Tuy bà B vắng mặt, nhưng con chung chưa đủ 3 tuổi về nguyên tắc phải giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng nên có căn cứ ghi nhận yêu cầu của ông A. Ông A, bà B không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung nên không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Ông A yêu cầu ly hôn với bà B, yêu cầu giao con chung cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng, bà B có hộ khẩu thường trú tại huyện Xuyên Mộc; Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS), HĐXX xác định quan hệ tranh chấp cần giải quyết là “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Xuyên Mộc.
Về người tham gia tố tụng: Ông A có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và được Tòa án chấp nhận; bà B được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ nguyên do nên theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về hôn nhân: Ông A và bà B được Ủy ban nhân dân UBND xã 2, huyện Xuyên Mộc cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (BL 06), theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa ông A và bà B là hôn nhân hợp pháp.
Về yêu cầu ly hôn: Ông A xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10/2021 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp dẫn đến thường xuyên xảy ra tranh cãi, bà B thương xuyên bỏ nhà đi dẫn đến vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc. Từ tháng 11/2021 bà B đã dẫn theo con chung bỏ về tổ 7, ấp 7, xã 2 sống và vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Qua xác minh bà B có dẫn con chung về sống tại ấp 3, xã 2, huyện 1. HĐXX xét thấy mâu thuẫn giữa ông A và bà B đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn sống chung, không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông A đối với bà B.
Về nuôi con chung và cấp dưỡng cho con: Ông A và bà B có 01 con chung tên Lại Ngọc AB, sinh ngày 09/3/2020, hiện đang sống cùng bà B; ông A yêu cầu giao con chung cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng, ông A tự nguyện cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 và khoản 2 Điều 82 Luật HN&GĐ thì “vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con” “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con” “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”, bà B tuy không có mặt tại tòa án để thể hiện rõ quan điểm của mình về vấn đề này, nhưng yêu cầu về con chung của ông A không trái đạo đức xã hội, phù hợp với lợi ích của con chung và quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Do ông A, bà B không yêu cầu nên HĐXX không xem xét quyết định.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và lời thừa nhận của các bên phù hợp với quy định tại các Điều 93, 94, 95, 96 BLTTDS là chứng cứ của vụ án.
Về án phí: Đối với vụ án hôn nhân và gia đình thì nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn.
Về phát biểu của Kiểm sát viên: Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên ghi nhận.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự và Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định BLTTDS.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
-Các Điều 19, 51, 56, 57, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 85, 116 và 117 Luật Hôn nhân và gia đình;
-Khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 173, 177, 179, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
-Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lại Văn A đối với bà Nguyễn Thị Bích B.
1.1. Về hôn nhân: Ông Lại Văn A được ly hôn với bà Nguyễn Thị Bích B.
1.2. Về con chung và cấp dưỡng cho con: Bà Nguyễn Thị Bích B được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lại Ngọc AB, sinh ngày 09/3/2020 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi phát sinh các căn cứ pháp lý làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ nuôi con. Ông A có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.000.000đ (hai triệu đồng) kể từ ngày 21/7/2022 hoặc ngày án có hiệu lực pháp luật (nếu có kháng cáo) cho đến khi cháu AB đủ 18 tuổi hoặc đến khi phát sinh căn cứ pháp lý làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng.
Sau khi ly hôn ông A, bà B đều có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Ông A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà bà B và những người thân thích không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì quyền lợi của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng cho con.
1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông A và bà B không yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Về án phí: Ông Lại Văn A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng cho con, tổng cộng là 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) ông A đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010874 ngày 10/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc. Ông A còn phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
- Bà Nguyễn Thị Bích B không phải chịu án phí.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày; VKSND cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/7/2022). Các đương sự không có mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Về thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -Người tham gia tố tụng; -VKSND huyện Xuyên Mộc; -VKSND tỉnh BR-VT; -TAND tỉnh BR-VT; -Chi Cục THADS huyện Xuyên Mộc; -UBND xã 2 (CNKH 191 ngày 09/7/2020); -Lưu hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Đạt |