vanban.org

Bản án 69/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị T. Xử cho chị T được ly hôn anh Hà Văn H.

Về con chung: Giao cho chị Hà Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Thị Thanh V, giao cho anh Hà Văn H trực tiếp nuôi cháu Hà Thị Hải Y, anh , chị không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Vợ chồng anh chị ® îc quyÒn thăm nom, ch¨m sãc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, người trực tiếp nuôi con và các thàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn chị hà thị toàn và anh hà văn hà"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị T. Xử cho chị T được ly hôn anh Hà Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 51 luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRIỆU SƠN
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69 /2022/ HNGĐ-ST
Ngày: 8- 9- 2022
V/v “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thủy

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Hùng và ông Trần Xuân Anh

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Sỹ Vĩ- Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tú - Kiểm sátviên.

Ngày 8 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 206 /2022/HNGĐ - ST ngày 23 tháng 5 năm 2022 về “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2022/QĐST- HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 42/2022 ngày 18/8/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thị T, sinh năm 1997

- Bị đơn: Anh Hà Văn H, sinh năm 1994

Cùng địa chỉ: Thôn Cây X, xã Bình S, huyện Triệu S, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn và bản tự khai cũng như tại phiên tòa, chị Hà Thị T trình bày chị và anh Hà Văn H đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 03 năm 2014 tại UBND xã Bình S, huyện Triệu S, tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở tự nguyện.

Quá trình chung sống với nhau vợ chồng hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh à và chị T vỡ kế hoạch, nên chị T sinh con quá dày, dấn đến kinh tế gia đình khó khăn, anh H không quan tâm đến vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi nhau và bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đã được hai bên gia đình nội, ngoại khuyên nhủ và hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy chị Toàn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hà Văn H.

Về con chung: Chị Hà Thị T trình bày vợ chồng anh chị có 02 ( hai) con chung với nhau, tên các cháu là Hà Thị Hải Y, sinh ngày 03/3/2014 và cháu Lê Hà Thị Thanh V, sinh ngày 04/4/2015. Ly hôn nguyện vọng của chị T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thanh V, giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hải Y, vợ chồng anh, chị không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và phần nợ: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Hà Văn H mặc dù đã được Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và các giấy triệu tập hợp lệ để anh H đến Tòa án trình bày lời khai, tham dự phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa, mặc dù thường xuyên có mặt ở nhà và là người trực tiếp nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh H không đến Tòa án, không có lý do, từ bỏ quyền của mình theo quy định tại Điều 70; Điều 72 của bộ luật tố tụng dân sự, để mặc cho Tòa án giải quyết vụ án, nên vụ án vẫn được đưa ra xét xử để xem xét và quyết định.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn tham gia phiên tòa có ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56 luật hôn nhân gia đình, đề nghị xử cho chị Hà Thị T được ly hôn anh Hà Văn H. Về con chung đề nghị áp dụng Điều 81; 82 và 83 luật hôn nhân gia đình, giao cho chị Toàn trực tiếp nuôi cháu Vân, giao cho anh Htrực tiếp nuôi cháu Y cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh, chị không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

.Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú trên địa bàn huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Hà Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa để đến Tòa án để tham gia phiên tòa, mặc dù thường xuyên có mặt ở nhà, không vì sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan nào, nhưng anh H không đến Tòa án, không có lý do. Vì vậy căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

.Về hôn nhân: Chị Hà Thị T và anh Hà Văn H đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình S, huyện Triệu S, tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở tự nguyện, có giấy chứng nhận kết hôn số 04/2014, ngày 27/3/2014. Việc đăng ký kết hôn của anh, chị tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Xét mâu thuẫn vợ chồng anh chị thì thấy: Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng anh chị không hòa hợp, kinh tế gia đình khó khăn do anh chị sinh con quá dầy, mặt khác chị Toàn và anh H đều chưa thực sự quan tâm, vun đắp đến tình cảm và hạnh phúc vợ chồng, mâu thuẫn này là nguyên nhân của rạn nứt khác, nên dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng anh, chị được ly hôn. Anh H không có bản tự khai, để mặc cho Tòa án giải quyết vụ án. Vì vậy căn cứ vào điều 51, Điều 56 luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Hà Thị T được ly hôn anh Hà Văn H.

. Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 người con chung với nhau là Hà Thị Hải Y, sinh ngày 03/3/2014 và cháu Hà Thị Thanh V, sinh ngày 04/4/2015. Chị T có nguyện vọng nuôi cháu Thanh V, giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hải Yn. Anh H không có quan điểm về hôn nhân và con chung.

Vì vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành niên, nên ngày 28/6/2022 Tòa án tiến hành xác minh về nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp và điều kiện nuôi con của chị T và anh H. Tại buổi xác minh UBND xã Bình S cho biết nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng chị T, anh HUBND xã không biết, do vợ chồng anh chị không báo cáo và yêu cầu hòa giải tại địa phương. Anh Hvà chị T đều có sức khỏe, và chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật, chị T đi làm công ty, anh H làm nghề tự do đều có thu nhập nên đều đủ điều kiện nuôi con. Vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Xét nguyện vọng nuôi con chung của chị T thì thấy: Anh, chị đều có mức thu nhập và điều kiện kinh tế như nhau, anh chị có 02 người con, cháu V có nguyện vọng xin được ở với mẹ, cháu Y có nguyện vọng được ở cùng bố. Vì vậy để đảm bảo điều kiện học tập và phát triển bình thường và xét nguyện vọng của các cháu bé, Hội đồng xét xử giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Thị Thanh V, giao cho anh H trực tiếp nuôi cháu Hà Thị Hải Y, anh , chị không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

.Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh H không có quan điểm.

. Về án phí: Chị Hà Thị T phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 4 điều 147, Điều 228; Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a, Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của uỷ ban thường vụ Quốc hội, điểm 1.1, tiểu mục 1, mục II phần A danh mục mức án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị T. Xử cho chị T được ly hôn anh Hà Văn H.

Về con chung: Giao cho chị Hà Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Thị Thanh V, giao cho anh Hà Văn H trực tiếp nuôi cháu Hà Thị Hải Y, anh , chị không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Vợ chồng anh chị ® îc quyÒn thăm nom, ch¨m sãc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, người trực tiếp nuôi con và các thành viên trong gia đình kh«ng ® îc ng¨n cÊm, c¶n trë. NÕu trong qu¸ tr×nh nu«i con anh hoặc chị kh«ng ch¨m sãc chu ®¸o ¶nh h ëng ®Õn sự ph¸t triÓn søc kháe, häc tËp, sinh ho¹t cña các cháu, thì anh hoặc chị cã quyÒn khëi kiÖn ®Õn Tßa ¸n yªu cÇu thay ®æi nu«i con chung.

Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh H không có ý kiến gì nên không xét.

Về án phí: Chị Hà Thị T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục thi hành án huyện Triệu Sơn theo biên lai số AA/2021/0006636 ngày 23 tháng 5 năm 2022 nay trừ vào án phí ly hôn, chị T đã nộp đủ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Tuyên bố cho chị Hà Thị T và anh Hà Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ