vanban.org

Bản án 69/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lâm Thị Hồng N

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lâm Thị Hồng N được ly hôn với ông Lương Chí L. Về con chung: con chung là Lương Chí L1 (nam) sinh ngày 22/12/1999, đã trưởng thành Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lâm Thị Hồng N
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
HUYỆN P
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 19/12/2022
V/v: tranh chấp Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu An

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Lê Tuấn Kiệt

2. Ông Tạ Quang Đức

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Văn Cum Anh là thư ký Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Cần Thơ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: bà Trần Thụy Quốc Vang - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 272/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp Ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 177/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Lâm Thị Hồng N, sinh năm 1981

Nơi cư trú: ấp N, xã A, huyện P, thành phố Cần Thơ. Có mặt

Bị đơn: ông Lương Chí L, sinh năm 1980

Nơi cư trú: ấp N, xã A, huyện P, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn – bà Lâm Thị Hồng N trình bày: bà và ông Lương Chí L tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào ngày 11/12/2006. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và ông L chung sống với người phụ nữ khác. Bà N và ông L đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay, vì vậy, bà N yêu cầu được ly hôn với ông Lương Chí L. Về con chung thì bà và ông L có 01 con chung là Lương Chí L1 (nam) sinh ngày 22/12/1999, đã trưởng thành. Bà N và ông L không có tài sản chung và không có nợ chung.

- 1 -

Ý kiến của Kiểm sát viên: Tòa án thụ lý vụ kiện là đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn Lâm Thị Hồng N được ly hôn với bị đơn Lương Chí L, về con chung thì không xem xét do con chung đã trưởng thành. Về tài sản chung và nợ chung đề nghị tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Lâm Thị Hồng N và ông Lương Chí L xây dựng quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 107/KH – 2006, quyển số 01 ngày 11/12/2006, do đó, hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp. Nay một bên yêu cầu được ly hôn, quan hệ pháp luật trên do Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân, vì vậy, Tòa án nhân dân huyện P thụ lý và giải quyết theo thẩm quyền.

Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Lương Chí L không đến tham dự các phiên hòa giải vào ngày 25/10/2022 và ngày 14/11/2022 nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã mở phiên tòa xét xử công khai vào ngày 30/11/2022 nhưng ông L vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, phía bị đơn Lương Chí L vẫn vắng mặt, vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị đơn Lương Chí L.

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, bà N trình bày, nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do giữa bà N và ông L bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, ông L đã sống chung với người phụ nữ khác từ năm 2017 và cũng từ đó bà N và ông L sống ly thân đến nay, bà N đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông L nhưng không được nên bà N yêu cầu ly hôn. Mặc dù không ghi nhận được ý kiến của bị đơn Lương Chí L nhưng việc ông L không đến tham dự các phiên hòa giải tại Tòa án cũng cho thấy ông L không còn tha thiết duy trì quan hệ hôn nhân với bà N. Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn bà N và ông L đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, vợ chồng không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Lâm Thị Hồng N là có cơ sở chấp nhận và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: bà N và ông L có 01 con chung là Lương Chí L1 (nam) sinh ngày 22/12/1999, con chung đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- 2 -

Về tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn trình bày không có nhưng không ghi nhận được ý kiến của bị đơn, do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét mà tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu của đương sự.

Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lâm Thị Hồng N

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lâm Thị Hồng N được ly hôn với ông Lương Chí L.

- Về con chung: con chung là Lương Chí L1 (nam) sinh ngày 22/12/1999, đã trưởng thành

- Về tài sản chung và nợ chung: tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu của đương sự.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: bà Lâm Thị Hồng N phải nộp 300.000 đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí tại phiếu thu số 0007506 ngày 03/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P thành án phí.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ