- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc T
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 69/2022/HNGĐ-ST Ngày: 15/7/2022 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Phẩm
2. Ông Nguyễn Thành Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa: Ông Ngô Văn Điện – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 188/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1992 (có mặt)
Địa chỉ: ấp PT, xã BP, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: Anh Phan Ngọc S, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp PT, xã BP, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31/5/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:
Vào năm 2009 chị T và anh S kết hôn theo phong tục tập quán, sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Phước ngày 13/3/2010 theo giấy chứng nhận kết hôn số 26, quyển số 01/2010. Thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc và có 02 con chung là cháu Phan Thị Ngọc T, sinh ngày 16/3/2010 và cháu Phan Ngọc T, sinh ngày 10/12/2017, hiện 02 cháu đang sống chung với chị T.
Đến năm 2020 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau dẫn đến bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, kéo dài vẫn không khắc phục được, nên đã ly thân từ tháng 5/2021 cho đến nay không ai quan tâm đến ai.
Nay chị T cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại được nên yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị T yêu cầu được ly hôn với anh Phan Ngọc S.
- Về con chung: Chị T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Phan Thị Ngọc T, sinh ngày 16/3/2010 và cháu Phan Ngọc T, sinh ngày 10/12/2017, chị T không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quyền, nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án con chung trên 07 tuổi của nguyên đơn và bị đơn cháu Phan Thị Ngọc T, sinh ngày 16/3/2010 trình bày: Cháu là con chung của ông Phan Ngọc S và bà Nguyễn Thị Ngọc T, khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ; đồng thời cháu xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 31/12/2021 bị đơn anh Phan Ngọc S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh S đồng ý ly hôn với chị T.
- Về con chung: Anh S yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Phan Thị Ngọc T, sinh ngày 16/3/2010, đồng ý giao cháu Phan Ngọc T, sinh ngày 10/12/2017 cho chị T nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ phải thu, phải trả: Anh S yêu cầu chị Nguyễn Thị Thanh Thúy trả cho anh S số tiền đã vay là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), là tiền của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành của những người tham gia tố tụng: Đối với các đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với bị đơn anh Phan Ngọc S.
+ Về nuôi con chung: Giao cháu Phan Thị Ngọc T, sinh ngày 16/3/2010 và cháu Phan Ngọc T, sinh ngày 10/12/2017 cho nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc T nuôi dưỡng, bị đơn Phan Ngọc S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về quyền, nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.
+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn có nơi cư trú tại xã Bình Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Quá trình tiến hành tố tụng xét xử vụ án, mặc dù đã được triệu tập tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Xét, giữa chị T và anh S chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh S là hợp pháp. Chị T cho rằng trong quá trình vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là tính tình không hợp nhau dẫn đến bất đồng quan điểm sống. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được, nên đã ly thân từ tháng 5/2021 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không đạt kết quả, do anh S cũng đồng ý ly hôn với chị T. Điều này cũng chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh S đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc chị T yêu cầu được ly hôn với anh S là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nuôi con chung: Chị T và anh S chung sống với nhau có 02 con chung là Phan Thị Ngọc T, sinh ngày 16/3/2010 và cháu Phan Ngọc T, sinh ngày 10/12/2017. Xét chị T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T và cháu T, anh S yêu cầu được nuôi cháu T và anh S đồng ý giao cháu T cho chị T nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, nguyện vọng được nuôi con của các bên đều chính đáng, phù hợp với đạo lý và pháp luật. Tuy nhiên, việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng cần xem xét đến việc đảm bảo quyền lợi cho con về mọi mặt. Xét, cháu T và cháu T hiện do chị T nuôi dưỡng, 02 cháu vẫn phát triển tốt về mọi mặt, cháu T cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với chị T. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu T và cháu T sau khi ly hôn và tránh thay đổi môi trường sống của 02 cháu, Hội đồng xét xử giao cháu T và cháu T cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị T chưa yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
Về chia tài sản chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.
Về nợ phải thu, phải trả: Tại biên bản hòa giải ngày 31/12/2021 bị đơn anh Phan Ngọc S có trình bày ý kiến yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh Thúy trả cho anh S số tiền đã vay là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Tòa án đã nhiều lần ra Quyết định yêu cầu anh Phan Ngọc S làm đơn khởi kiện (theo mẫu quy định tại Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) đối với yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh Thúy trả 20.000.000 đồng cho anh S; đồng thời yêu cầu anh S cung cấp họ tên, năm sinh, địa chỉ cư trú của bà Nguyễn Thị Thanh Thúy (có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền) để xem xét giải quyết yêu cầu của anh S, nhưng anh S không cung cấp, đồng thời khi xét xử vụ án anh S đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu của anh S.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát huyện Mang Thít là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc T
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với bị đơn anh Phan Ngọc S.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Phan Thị Ngọc T, sinh ngày 16/3/2010 và Phan Ngọc T, sinh ngày 10/12/2017 cho nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc T nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn chưa yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.
4. Về quyền, nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.
5. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), số tiền này được khấu trừ từ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo lai thu số: 0006828 ngày 09/12/2021. Nguyên đơn không phải nộp thêm tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND huyện Mang Thít; - Chi cục THADS huyện Mang Thít; - UBND xã Bình Phước; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Ngọc Bích THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Bích |