vanban.org

Bản án 69/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Phan Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Hải A.

Về con chung: Giao Nguyễn Phan Hải Y, sinh ngày 12/4/2012 và Nguyễn Phan Hải S, sinh ngày 07/11/2020 cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh chị có quyền làm đơn yêu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị H - Nguyễn Hải A"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Phan Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Hải A.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15-8-2022
“Tranh chấp về ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh

2. Ông Nguyễn Hiếu Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên toà: ông Võ Hoàng Hạt – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 152/2021/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 5 năm 2021 về việc: “yêu cầu ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21/7/2022 giữa:

Nguyên đơn: chị Phan Thị H, sinh năm 1990

Địa chỉ: 838 M, khu phố N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang

Bị đơn: Anh Nguyễn Hải A, sinh năm 1988

Địa chỉ: ấp 7, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 28/04/2021, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phan Thị H trình bày: Vào năm 2012 sau thời gian quen biết tự tìm hiểu, chị và anh A đã tự nguyện sống chung với nhau, không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc vào ngày 12/7/2012. Chị và anh Hải A sống hạnh phúc được 05 năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp, anh A thường xuyên cờ bạc không lo cho gia đình, để một mình chị tự làm nuôi con nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau làm cho đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị và anh A đã tự ly thân với nhau từ tháng 11/2020 đến nay. Trong thời gian ly thân, chị và anh Hải A không có gặp nhau và chị cũng đã suy nghĩ rất kỹ không thể hàn gắn lại tình cảm được nữa, do đó chị yêu cầu ly hôn với anh A.

Thời gian chung sống, chị và anh A có hai người con chung tên Nguyễn Phan Hải Y, sinh ngày 12/4/2012 và Nguyễn Phan Hải S, sinh ngày 07/11/2020; hai con sống chung với chị H từ khi vợ chồng ly thân đến nay.

Tài sản chung, nợ chung: chị H xác nhận không có.

Tại phiên tòa, về hôn nhân chị Phan Thị H yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hải A. Về con chung chị yêu cầu được nuôi hai con Nguyễn Phan Hải Y, sinh ngày 12/4/2012, Nguyễn Phan Hải S, sinh ngày 07/11/2020 và không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Nguyễn Hải A không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng anh A không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của anh.

Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều vắng mặt là không tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử đã vi phạm cần khắc phục.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82 và 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Về hôn nhân chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh A. Về con chung giao con tên Nguyễn Phan Hải Y, sinh ngày 12/4/2012 và Nguyễn Phan Hải S, sinh ngày 07/11/2020 cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về tài sản chung, nợ chung và cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu tòa án giải quyết, do đó Viện kiểm sát không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình chung sống, do phát sinh mâu thuẫn không giải quyết được với nhau nên chị Phan Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hải A được Tòa án thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền được quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Anh Nguyễn Hải A với tư cách là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án vẫn được xét xử theo quy định.

Về hôn nhân: chị H và anh A quen biết tìm hiểu nhau rồi tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2012, anh chị không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc số vào sổ 162/2012 ngày 12/7/2012 theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 được sửa đổi, bổ sung năm 2010 thì hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu của chị H được ly hôn với anh A vì lý do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống, tính tình không hợp, anh A thường xuyên cờ bạc không lo cho gia đình, để một mình chị tự làm nuôi con nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau làm cho đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc; hơn nữa chị và anh A đã tự ly thân với nhau từ tháng 11/2020 đến nay. Đối với anh A, Tòa án đã nhiều lần tống đạt và thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có 02 lần tống đạt Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để tạo điều kiện cho vợ chồng anh chị hòa giải, đoàn tụ với nhau nhưng anh A đều không có mặt nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.

Tại phiên tòa, chị H khai rõ trong thời gian ly thân chị và anh A không có gặp nhau nên không thể hàn gắn đời sống hôn nhân được nữa vì chị không còn tình cảm với anh A và chị H cũng tỏ rõ thái độ cương quyết ly hôn với anh A. HĐXX thấy rằng, do trước khi kết hôn anh chị đã không tìm hiểu kỹ cá tính của nhau nên sau thời gian chung sống giữa chị H và anh A mới phát sinh sự bất đồng quan điểm và không còn duy trì được tình yêu thương dành cho nhau nên khi xảy ra mâu thuẫn không giải quyết được dẫn đến tranh chấp kéo dài làm cho tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp.

Về con chung: Chị H khai vợ chồng chị có hai người con chung tên Nguyễn Phan Hải Y, sinh ngày 12/4/2012 và Nguyễn Phan Hải S, sinh ngày 07/11/2020. Chị H yêu cầu được nuôi hai con Nguyễn Phan Hải Y và Nguyễn Phan Hải S. Xét từ khi chị H và anh A ly thân đến nay, hai con trực tiếp sống chung với chị H và phát triển bình thường về mọi mặt; hơn nữa cháu Hải Y có nguyện vọng được sống chung với mẹ và cháu Hải S hiện nay mới được 21 tháng tuổi nên căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao hai con Nguyễn Phan Hải Y và Nguyễn Phan Hải S cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với thực tế, đúng với nguyện vọng của con, không trái đạo đức xã hội và đúng quy định pháp luật, do đó yêu cầu được nuôi con của chị H HĐXX chấp nhận.

Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.

Đối với bị đơn anh A qua thẩm tra xác minh trong quá trình giải quyết vụ án cho thấy, anh A vẫn còn hộ khẩu tại địa phương nhưng anh A đi làm ít ở nhà nên Tòa án không thể trực tiếp thực hiện việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho anh A. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng đầy đủ và đúng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh A vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án thể hiện ý kiến của mình liên quan đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử không thể xem xét nguyện vọng của anh A.

Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Án phí ly hôn bằng 300.000 đồng, chị Phan Thị H phải nộp do có yêu cầu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 179, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 được sửa đổi, bổ sung năm 2010; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Phan Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Hải A.

2. Về con chung: Giao Nguyễn Phan Hải Y, sinh ngày 12/4/2012 và Nguyễn Phan Hải S, sinh ngày 07/11/2020 cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Anh A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh chị có quyền làm đơn yêu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung và cấp dƣỡng: Miễn xét

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Phan Thị H phải nộp án phí là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002795, ngày 04/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị H đã nộp xong án phí.

5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/8/2022). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ