vanban.org

Bản án 69/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nguyễn Thị H và anh Mã Phi P.

sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị T - Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Nguyễn Thị H và anh Mã Phi P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2022/DS-ST
Ngày 21/9/2022
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Lệ Hoa

2. Ông Trần Phi Hùng

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Hồng Như là Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân

huyện Thới Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia

phiên tòa: Ông Hồ Tấn Pháp - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét

xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 87/2022/TLST – DS ngày 06 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2022/QĐXX - ST ngày 16 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:1/ Chị Nguyễn Thị T; Sinh năm: 1983 (có mặt);

2/ Anh Nguyễn Văn V; Sinh năm: 1980(có mặt);

2. Bị đơn: 1/ Chị Nguyễn Thị H (xin vắng mặt);

2/ Anh Mã Phi P (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn V thống nhất trình bày:

Anh chị và vợ chồng anh P, chị H là chỗ hàng xóm quen biết đã lâu nên anh

chị có cho anh P và chị H vay 33 chỉ vàng 24K để chồng tiền mua đất, thỏa thuận vay không tính lãi. Anh chị giao vàng hai lần cho anh P và chị H, lần đầu giao 13 chỉ vàng 24K không làm biên nhận, đến lần thứ 2 anh chị cho anh P và chị H vay thêm 20 chỉ và có làm biên nhận là “Hợp đồng thiếu nợ” ngày 18/10/2016. Tổng hai lần vay là 33 chỉ vàng 24K, cam kết trả dần trong 03 tháng, được anh P và chị H ký tên xác nhận.

Tuy nhiên đến ngày hẹn trả vàng mà anh P và chị H không trả nên anh chị

yêu cầu Tòa án buộc anh P và chị H phải trả cho anh chị 33 chỉ vàng 24K đã nợ, không yêu cầu tính lãi đối với số vàng trên.

Tại biên bản làm việc ngày 02/8/2022 chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị thừa

nhận có vay 33 chỉ vàng 24K như nguyên đơn trình bày là đúng. Nay trước yêu cầu khởi kiện của chị T và anh V chị đồng ý trả 33 chỉ vàng 24K nhưng do chị đang bị tạm giam, tài sản đều không còn nên không có điều kiện trả ngay và chị H xin xét xử vắng mặt chị cho đến khi kết thúc vụ án.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong vụ án cho anh Mã Phi P

nhưng anh P không có ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa không lý do.

Tại phiên tòa hôm nay:

Chị T và anh V vẫn giữ nguyên yêu cầu chị H và anh P trả cho anh chị số tiền

vàng vay 33 chỉ vàng 24K, không yêu cầu trả lãi đối với số vàng trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình phát biểu ý kiến về việc

tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của pháp luật; về nội dung vụ án: Đề nghị xét xử vắng mặt chị H và anh P, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị H và anh P thanh toán cho chị T và anh V 33 chỉ vàng 24K.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu, có dự nộp tạm ứng án

phí được nhận lại; Bị đơn phải chịu án phí theo quy định trên số vàng bị buộc phải thanh toán cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị T và

anh Nguyễn Văn V khởi kiện yêu cầu chị Nguyễn Thị H và anh Mã Phi P trả số vàng đã vay. Đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản; chị H và anh P có nơi cư trú tại xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị T và anh V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với chị H và anh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng

trong vụ án, được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng chị H có yêu cầu xét xử vắng mặt, còn anh P vắng mặt tại phiên toà và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của nguyên đơn, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh P theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:

Giao dịch vay vàng giữa chị T và anh V với vợ chồng chị H và anh P là thực tế có xảy ra được bị đơn thừa nhận tại “ Hợp đồng thiếu nợ” ngày 18/10/2016, biên bản làm việc ngày 02/8/2022 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Cà Mau, do bị đơn không thể trả nợ theo thỏa thuận nên chị T và anh V khởi kiện yêu cầu chị H và anh P thanh toán nợ vay.

Đối với số vàng đã vay: Tại Biên bản làm việc ngày 02/8/2022 chị H thừa

nhận có vay của nguyên đơn 33 chỉ vàng 24K, vay 2 lần, lần đầu vay 23 chỉ vàng 24K vào khoảng năm 2013, thỏa thuận lãi suất 10%/tháng, chị H đã đóng lãi đầy đủ, lần 2 vay 10 chỉ vàng 24K vào năm 2016, cũng thỏa thuận trả lãi như vậy nhưng vừa vay xong thì anh chị bị vỡ hụi nên chưa đóng lãi lần nào. Chị H cũng thống nhất thanh toán cho nguyên đơn số vàng trên. Đối với anh P, tại biên bản làm việc trên chị H cũng xác định anh P có biết việc vay vàng này và cùng chị H ký xác nhận nợ tại “hợp đồng thiếu nợ” ngày 18/10/2016.

Xét thấy lời trình bày giữa nguyên đơn và bị đơn tuy có khác nhau về số

vàng vay ở hai lần vay nhưng đều thống nhất tổng số vàng vay là 33 chỉ vàng 24K. Đây là nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nên cần buộc chị H và anh P cùng có nghĩa vụ thanh toán cho chị T và anh V là phù hợp.

Về việc tính lãi vay: Nguyên đơn không có yêu cầu tính lãi, còn chị H xác

định trước đây có đóng lãi vay cho nguyên đơn, đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên nên không yêu cầu đối với số vàng đã đóng lãi, do đó Hội đồng xét xử không xem xét. Từ những nhận định nêu trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn liên đới thanh toán cho nguyên đơn số vàng vay 33 chỉ vàng 24K.

Về án phí dân sự có giá ngạch: Chị T và anh V không phải chịu án phí, số

tiền tạm ứng án phí đã nộp được nhận lại, chị H và anh P phải chịu án phí theo quy định trên số vàng bị buộc phải thanh toán cho nguyên đơn.

Đương sự có quyền kháng cáo bản án, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị

theo luật định.

Xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị

Nguyễn Thị H và anh Mã Phi P.

Áp dụng các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân

sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn

Văn V về việc yêu cầu chị Nguyễn Thị H và anh Mã Phi P thanh toán nợ vay.

Buộc chị Nguyễn Thị H và anh Mã Phi P liên đới thanh toán cho chị Nguyễn

Thị T và anh Nguyễn Văn V 33 chỉ vàng 24K.

Về án phí dân sự có giá ngạch: Chị Nguyễn Thị H và anh Mã Phi P phải chịu

số tiền 8.293.000 đồng, tính giá vàng 24K tại thời điểm ngày 21/9/2022 là 5.020.000 đồng/chỉ).

Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn V không phải chịu án phí. Ngày

06/6/2022, chị T và anh V có dự nộp tạm ứng án phí số tiền 4.290.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0015017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được nhận lại.

Chị T và anh V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên

án. Chị H và anh P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ