- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Ngọc Ch - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc Ch (tên gọi khác: Hoàng Văn Ch) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2021/HSST Ngày: 27 / 9 / 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Hữu Thái.
Ông Ma Ngọc Vũ.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Biên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2021, tại hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2021/HSST ngày 10/9/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Hoàng Ngọc Ch (tên gọi khác: Hoàng Văn Ch), 04 tháng 4 năm 1972 tại tỉnh B; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 7, phường Đ, thành phố B1, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Đ và bà Đàm Thị Ơ; vợ con: Chưa có; tiền án: 02 (Tại bản án số 54/HSST ngày 14/8/1999 của TAND tỉnh B đã xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, tổng hợp hình phạt của hai tội là 15 năm tù; tại bản án số 47/2014/HSST ngày 17/7/2014 của TAND thị xã B1 (nay là thành phố B1), tỉnh B đã xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”) chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/12/2011 bị Chủ tịch UBND thị xã B1 (nay là thành phố B1), tỉnh Bắc Kạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2021 đến nay. Có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Đàm Thị Ơ, sinh năm 1940, trú tại: Tổ 7, phường Đ, thành phố B1, tỉnh B. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 30 phút ngày 06/5/2021, tại khu vực tổ 7, phường Đ, thành phố B1, tỉnh B, tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về Kinh tế-Ma tuý Công an thành phố B1, tỉnh B bắt quả tang đối với Hoàng Ngọc Ch có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ: 04 (bốn) gói nhựa màu xanh đều được bịt kín hai đầu, bên trong mỗi gói có chứa chất bột màu trắng (niêm phong trong phong bì ký hiệu C1) trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long tại túi quần bên phải Hoàng Ngọc Ch đang mặc; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel; 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu vàng biển kiểm soát 97B1 - 372.xx cùng chìa khoá xe
Cùng ngày, cơ quan điều tra đã ra lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Hoàng Ngọc Ch tại tổ 7, phường Đ, thành phố B1, tỉnh B. Qua khám xét đã không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Hoàng Ngọc Ch khai nhận: Số chất bột màu trắng trong 04 (bốn) gói nhựa màu xanh bịt kín hai đầu cơ quan công an đã thu giữ tại túi quần bên phải đang mặc là ma túy loại Heroine của Ch tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Về nguồn gốc số ma túy Hoàng Ngọc Ch khai: Khoảng 18 giờ ngày 06/5/2021, Ch điều khiển xe môtô biển kiểm soát 97B1-372xx từ nhà đi đến khu vực khách sạn K thuộc tại tổ 10B, phường Đ, thành phố B1 để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân thì gặp một người đàn ông, qua nói chuyện Ch biết người này tên Ngh nhưng không biết họ, tuổi, địa chỉ cụ thể có bán ma túy nên đã hỏi mua 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) ma túy loại Heroine, thì được người này nhất trí bán và đưa cho 04 (bốn) gói nhựa màu xanh có chứa ma túy. Sau khi mua bán xong ma túy người đàn ông đi đâu Ch không biết, còn Ch cho 04 gói ma túy vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long cất vào túi quần rồi điều khiển xe để đi về nhà, khi đi đến khu vực tổ 7, phường Đ, thành phố B1 thì bị tổ công tác Công an thành phố B1 bắt quả tang và thu giữ 04 gói ma túy cùng một số đồ vật, tài sản khác.
Tiến hành cân riêng số chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Ngọc Ch trong phong bì ký hiệu C1 có khối lượng là 0,87gam (không phẩy tám bảy gam). Sau khi cân xác định khối lượng, toàn bộ số chất bột màu trắng nêu trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định. Phong bì, vỏ bao thuốc lá, gói nhựa cũ niêm phong vào phong bì ký hiệu A2.
Tại kết luận giám định số 87/KTHS-MT ngày 11/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,87 gam (không phẩy tám bảy gam)”. Sau giám định, mẫu chất còn lại cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì T87 hoàn trả lại cho cơ quan điều tra.
Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKSTPBK ngày 09/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với Hoàng Ngọc Ch (tên gọi khác: Hoàng Văn Ch) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
......
c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
.....
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
…..
o) Tái phạm nguy hiểm
…..
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và bổ sung phần lý lịch, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc Ch (tên gọi khác: Hoàng Văn Ch) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 05 đến 06 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 06/5/2021.
Hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu T87; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu A2. Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu xanh đen đã qua sử dụng bên trong điện thoại lắp 01 sim số thuê bao 09616587xx.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là không oan, đúng người, đúng tội và xin hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo thống nhất với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có cơ sở khẳng định:
Hồi 18 giờ 30 phút ngày 06/5/2021, tại khu vực tổ 7, phường Đ, thành phố B1, tỉnh B, tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về Kinh tế-Ma tuý Công an thành phố B1, tỉnh B bắt quả tang Hoàng Ngọc Ch đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,87gam (không phẩy tám bảy gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân. Do bị cáo có 02 tiền án, đã bị áp dụng tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” tại bản án hình sự sơ thẩm số 47/2014/HSST ngày 17/7/2014 của TAND thị xã B1 (nay là thành phố B1), tỉnh B đến nay chưa được xóa án tích. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo có nhân thân xấu. Ngày 30/12/2011, bị Chủ tịch UBND thị xã B1 (nay là thành phố B1), tỉnh B áp dụng biên pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có bố mẹ đẻ được tặng Huân chương kháng chiến nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng vì 02 (hai) tiền án của bị cáo đã là yếu tố định khung hình phạt.
Bị cáo đã 02 lần bị kết án về tội phạm ma túy, sau khi chấp hành xong hình phạt tù không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm, mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, nên khi xem xét lượng hình cần phải có một hình phạt thỏa đáng, tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
* Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung "Phạt tiền” theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE biển kiểm soát 97B1
- 372.xx cùng chìa khóa xe. Quá trình điều tra đã xác định chiếc xe là tài sản của bà Đàm Thị Ơ. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe vào việc đi mua ma túy bà Ơ không biết. Do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe, chìa khóa xe cho bà Ơ là đúng quy định của pháp luật.
- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu T87 và dòng chữ "Vụ Hoàng Ngọc Ch (1972) tàng trữ trái phép chất ma tuý". Mặt sau phong bì có 04 (bốn) chữ ký niêm phong không đọc được và 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu A2 và dòng chữ "Phong bì và gói nhựa cũ vụ Hoàng Ngọc Ch ngày 06/5/2021 lưu hồ sơ vụ án". Mặt sau phong bì có 05 (năm) chữ ký niêm phong không đọc được, 02 (hai) chữ ký mang tên Hoàng Ngọc Ch và 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B1. Tất cả không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu xanh đen đã qua sử dụng. Số IMEI1: 359430068686886; số IMEI2: 359430068686894. Bên trong điện thoại lắp 01 sim số thuê bao 09616587xx là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
* Trong vụ án này còn có người đàn ông tên Nghĩa đã bán ma túy cho Hoàng Ngọc Ch, do Ch không biết họ, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc Ch (tên gọi khác: Hoàng Văn Ch) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc Ch (tên gọi khác: Hoàng Văn Ch) 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 06/5/2021.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu T87 và dòng chữ "Vụ Hoàng Ngọc Ch (1972) tàng trữ trái phép chất ma tuý". Mặt sau phong bì có 04 (bốn) chữ ký niêm phong không đọc được và 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu A2 và dòng chữ "Phong bì và gói nhựa cũ vụ Hoàng Ngọc Ch ngày 06/5/2021 lưu hồ sơ vụ án". Mặt sau phong bì có 05 (năm) chữ ký niêm phong không đọc được, 02 (hai) chữ ký mang tên Hoàng Ngọc Ch và 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B1.
Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu xanh đen đã qua sử dụng. Số IMEI1: 359430068686886; Số IMEI2: 359430068686894. Bên trong điện thoại lắp 01 sim số thuê bao 09616587xx.
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 20/9/2021 giữa Công an thành phố B1 và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B1.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh ; - VKSND thành phố; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố; - Chi cục THADS thành phố; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Dƣơng |