vanban.org

Bản án 69/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 16/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Mỹ D phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: - Trần Thị Mỹ D 08 (tám) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” . Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2020. Miễn phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Mỹ D phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------
Bản án số: 69/2021/HSST
Ngày: 16/4/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thiên Thuận

Bà Đào Phương Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Lan Hương – Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm – Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Ông Quách Tiến Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 16/4/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2021/HSST ngày 30/3/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên bị cáo: Trần Thị Mỹ D; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1999; Nơi ĐKTT: Khu LH 2, xã CĐ, huyện ĐH, tỉnh PT; Nơi ở: Phòng 0302 tòa S216, Vinhomes Ocean Park, xã ĐT, huyện GL, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Họ tên Cha: Trần Duy H; Sinh năm: 1968; Họ tên Mẹ: Nguyễn Thị Th; Sinh năm: 1968; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ: 07/11/2020; Tạm giam: 13/11/2020; Số giam: 5289V1/M2; Bị can đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 – Công an TP. Hà Nội.

Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 06/11/2020, tổ công tác Công an phường HB làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn phát hiện Trần Thị Mỹ D đi bộ tại khu vực ngã ba HV – HB, phường HB, quận HK, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, D tự nguyện giao nộp 01 túi nilông kích thước 5x10 cm đựng 15 viên nén màu xanh nước biển và 02 túi nilông kích thước 3x3 cm đựng tinh thể màu trắng và khai nhận là ma túy đang mang đi bán cho đối tượng tên “C”. Tổ công tác đã bắt giữ D cùng tang vật đưa về trụ sở công an phường HB giải quyết.

Ngoài ra còn thu giữ của D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max, kèm sim.

Kiểm tra điện thoại di động của D phát hiện một số tin nhắn, cuộc gọi đi, gọi đến số điện thoại xxxxxxxxxx – tên danh bạ “A C sg” liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy.Các tin nhắn có nội dung: C bảo D lấy cho C 15 viên ma túy tổng hợp và 2 chỉ “ke”. D đồng ý và báo giá số ma túy D mua vào là 11.250.000 đồng. C bảo D ứng tiền mua số ma túy, hứa trả cho D 15.000.000 đồng và bảo D đi taxi đến chỗ C tại 156 HB. Ngoài ra, C bảo D sẽ thanh toán nốt tiền 01 chỉ “ke”, C mua của D ngày 05/11/2020.

Tại bản kết luận giám định số 10009/KLGĐ-PC09 ngày 13/11/2020 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilông đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 1,933 gam. 15 viên nén màu xanh nước biển bên trong 01 túi nilông là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 5,264 gam.

Tại cơ quan điều tra, Trần Thị Mỹ D khai: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 06/11/2020, C (không rõ tên tuổi, địa chỉ, Số điện thoại: xxxxxxxxxx) gọi điện cho D nhờ mua hộ 15 viên ma túy “kẹo” và 02 chỉ “Ke”; D báo giá là 11.250.000 đồng. C đồng ý và nói D bỏ tiền mua trước, khi D giao ma túy sẽ trả cho D 15.000.000 đồng và cho D cùng sử dụng. Sau đó, qua các mối quan hệ xã hội, D gọi điện cho N (không rõ tên tuổi, địa chỉ, không nhớ số điện thoại) hỏi mua ma túy và đến khu vực TQ, GL gặp N mua 15 viên ma túy “kẹo” và 02 chỉ “ke” với giá 11.250.000 đồng. Sau khi mua ma túy, D xóa toàn bộ danh sách cuộc gọi liên quan đến N, đi taxi đến HV giao cho C. Khi D đang đi bộ ở ngã ba HV – HB thì bị công an kiểm tra, bắt giữ như nêu trên. Ngoài ra, D còn khai nhận, ngày 05/11/2020, D mua 01 “chỉ” ma túy Ketamine của N với giá 3.500.000 đồng bán lại cho C với giá 3.500.000 đồng.

Về đối tượng tên N, D khai bán ma túy và đối tượng tên C hỏi mua ma túy do D khai không rõ lai lịch địa chỉ, Cơ quan điều tra đã dẫn giải D chỉ địa điểm mua ma túy nhưng không xác định được, tiến hành rút list điện thoại nhưng không xác định được danh tính đối tượng mua ma túy nên không đủ căn cứ điều tra, làm rõ.

Tại bản Cáo trạng số: 62/CT/VKS-HS ngày 22 tháng 03 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm – Thành phố Hà Nội đã truy tố Trần Thị Mỹ D về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định điểm b,p khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trong quá trình điều tra và nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Hoàn Kiếm giữ quan điểm truy tố với Trần Thị Mỹ D như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b,p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo D mức án từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù giam. Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước điện thoại thu giữ của bị cáo, miễn phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên ṭòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về định tội và hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, bằng vật chứng thu giữ của bị cáo, qua giám định là ma túy cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 06/11/2020 Trần Thị Mỹ D đang thực hiện hành vi bán trái phép 02 chất ma túy gồm: 1,933 gam ma túy Ketamine và 5,264 gam ma túy MDMA cho đối tượng tên C tại khu vực ngã ba HV – HB, phường HB, quận HK, Hà Nội thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Ngoài ra, ngày 05/11/2020, D còn bán thành công 01 “chỉ” ma túy Ketamine cho C với giá 3.500.000 đồng. C chưa trả tiền mua 01 “chỉ” ma túy Ketamine trên mà hẹn ngày 06/11/2020 sẽ trả tiền.

Như vậy, Trần Thị Mỹ D cất giấu 02 chất ma túy nhằm mục đích bán trái phép được quy định tại các điểm khác nhau quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự nên được quy đổi theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018, của Chính phủ như sau: 5,264 gam MDMA, so với khối lượng mức tối thiểu của điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là 17,55% + 1,933 gam Ketamine so với mức tối thiểu của điểm e khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là 1,93%. Tổng hai chất ma túy D mang theo nhằm mục đích mua bán là 19,48%. Hành vi phạm tội của Trần Thị Mỹ D được quy định tại điểm p (có từ 02 chất ma túy trở lên) khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015..

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện làm huỷ hoại sức khoẻ con người, làm xói mòn đạo đức xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho việc mua bán ma tuý và ma tuý cũng là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự do đó phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Xét nhân thân của bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu nhưng không chịu tu dưỡng trở thành người có ích cho xã hội, tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải. Xét thấy bị cáo đều có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký của Trần Thị Mỹ D, giám định viên Nguyễn Hoàng H, cán bộ công an phường HB, người chứng kiến, hình dấu của công an phường HB. Bên trong phong bì chứa 01 túi nilông kích thước 5x10 cm đựng 15 viên nén màu xanh nước biển là ma túy MDMA khối lượng 5,264 gam, PC09 trích mẫu giám định 1,049 gam, còn lại 4,215 gam; 02 túi nilông kích thước 3x3 cm đựng tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine khối lượng 1,933 gam, PC09 thu mẫu giám định 0,322 gam còn lại 1,611 gam; Tịch thu tiêu hủy 1 sim điện thoại thu giữ của bị cáo.

+ Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max đã qua sử dụng, không rõ chất lượng do liên quan đến hành vi phạm tội.

4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về đối tượng tên N, D khai bán ma túy và đối tượng tên C hỏi mua ma túy do D khai không rõ lai lịch địa chỉ, Cơ quan điều tra đã dẫn giải D chỉ địa điểm mua ma túy nhưng không xác định được, tiến hành rút list điện thoại nhưng không xác định được danh tính đối tượng mua ma túy nên không đủ căn cứ điều tra, làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Mỹ D phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: - Trần Thị Mỹ D 08 (tám) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” . Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2020.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

Miễn phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký của Trần Thị Mỹ D, giám định viên Nguyễn Hoàng H, cán bộ công an phường HB, người chứng kiến, hình dấu của công an phường HB. Bên trong phong bì chứa 01 túi nilông kích thước 5x10 cm đựng 15 viên nén màu xanh nước biển là ma túy MDMA khối lượng 5,264 gam, PC09 trích mẫu giám định 1,049 gam, còn lại 4,215 gam; 02 túi nilông kích thước 3x3 cm đựng tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine khối lượng 1,933 gam, PC09 thu mẫu giám định 0,322 gam còn lại 1,611 gam; Tịch thu tiêu hủy 1 sim điện thoại thu giữ của bị cáo.

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax đã qua sử dụng, không rõ chất lượng.

Các tang vật trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm - Thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 16/04/2021 giữa Công an quận Hoàn Kiếm và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm.

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ