- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Thu H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Thu H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2021/HS-ST Ngày 30/7/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quốc Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thúc Giang và bà Phan Thị Nhung.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hiền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2021 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2021đối với bị cáo:
Họ và tên Phạm Thị Thu H, sinh ngày 04/5/2002 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố G, thị trấn K, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị T, chồng, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/04/2021. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc. (có mặt)
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960 (vắng mặt)
- Anh Ngô Hoàng T2, sinh năm 1988 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 28/4/2021, Phạm Thị Thu H và người bạn nghiện mới quen có tên là T3, ở xã C, thành phố P ngồi uống nước tại khu vực đài phun nước thuộc thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây T3 nói với H: “Tối nay anh tiếp khách ở quán Lavegas, em mang cho anh hai cái kẹo và một chỉ ke nhé, khoảng 22 giờ mang xuống cho anh, anh ra lấy” H hiểu ý của T3 hỏi mua ma túy nên đồng ý và nói với T3: “Tổng của anh hết hai triệu, khi nào em xuống thì anh ra nhé”, T3 trả lời: “Được rồi, cứ 22 giờ xuống là anh ra”. Sau đó, T3 đi đâu thì H không biết. Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, H đi taxi từ nhà ra khu vực đài phun nước thuộc thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để uống nước, sau đó H thuê xe taxi của anh Ngô Hoàng T2, sinh năm 1988; HKTT: Phường Đ, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đi từ thành phố Vĩnh Yên đến chỗ hẹn để giao dịch mua bán ma túy.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến trước cửa quán Karaoke Lavegas, H bảo với T2 dừng xe để gặp bạn. H xuống xe đi bộ được một đoạn về phía cửa quán Lavegas thì tổ công tác Công an thành phố Phúc Yên phát hiện bắt quả tang cùng tang vật gồm:
Thu giữ tại lòng bàn tay phải của H 02 túi nilon màu trắng viền xanh, trong đó có 01 túi nilon bên trong có chứa các tinh thể dạng đá màu trắng được niêm phong trong phong bì theo quy định kí hiệu A1 và 01 túi nilon bên trong có chứa 02 viên nén màu cam, hình trái tim được niêm phong trong phong bì kí hiệu A2. H khai nhận 02 túi ma túy trên đang đi bán cho T3 nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang. Thu giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng gold, màn hình cảm ứng đã bị nứt vỡ, IMEI: 354379064250962. Thu giữ mẫu nước tiểu của H.
Ngày 01/5/2021, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã có kết luận giám định số 989/KLGĐ kết luận:
“1. Tinh thể dạng đá của mẫu kí hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0.6525g (không phẩy sáu năm hai năm gam, không kể bao bì), loại Ketamine.
2. Hai viên ném màu vàng cam của mẫu kí hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0.7154g (Không phảy bảy một năm bốn gam, không kể bao bì), loại MDMA.”
Cơ quan giám định đã hoàn lại sau giám định là A1= 0.5674gam, A2 = 0.6467g mẫu cùng toàn bộ bao gói niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ”.
Tại bản kết luận giám định số: 1024A/ KLGĐ ngày 09/5/2021, Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định và kết luận:
“Tìm thấy Methamphetamine, MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Phạm Thị Thu H, sinh năm 2002, HKTT: thị trấn G, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc gửi giám định.”
Tại Cáo trạng số: 55/CT - VKSPY ngày 12 tháng 7 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố Phạm Thị Thu H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Phạm Thị Thu H đã khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Tại phiên tòa kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Phạm Thị Thu H; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thu H từ 02 năm 9 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/4/2021, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà Phạm Thị Thu H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 28 tháng 04 năm 2021, lời khai của người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 28/4/2021, tại phía trước cửa quán Karaoke Lavegas thuộc phường P, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Phạm Thị Thu H có hành vi đem 01 túi ma túy Ketamine có khối lượng = 0,6525 gam và 01 túi ma túy MDMA có khối lượng = 0,7154 gam đi bán cho đối tượng tự khai tên là T3 với giá 2.000.000đồng nhưng chưa kịp bán bị Công an thành phố Phúc Yên bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Phạm Thị Thu H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm tù. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 55/CT - VKSPY ngày 12 tháng 7 năm 2021 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Xét nhân thân, tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo tuổi đời còn trẻ trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa và giáo dục chung, cũng như giúp bị cáo cải tạo tHnh người công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua bán phép chất ma túy vì mục đích sử dụng cho bản thân, quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ bị cáo là người nghiện ma túy không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với nam thanh niên tên T3 người ở xã C - Phúc Yên - Vĩnh Phúc là người H khai nhận đã đặt mua ma túy của H ngày 28/4/2021. Quá trình điều tra xác minh tại địa phương nơi địa chỉ ban đầu H đã khai nhưng không có ai có tên tuổi địa chỉ cụ thể như trên nên. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.
Về nguồn gốc ma túy H khai nhận trước đó ngày 26/4/2021, H đã mua của người đàn ông có tên là Tú, địa chỉ ở xã P, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình điều tra, xác minh tại địa phương nơi địa chỉ của Tú như H đã khai nhưng không có ai có tên tuổi địa chỉ như trên nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.
Về vật chứng vụ án: Mẫu ma túy A1= 0.5674gam, A2 = 0.6467g cùng bao gói + mẫu nước tiểu cùng bao gói cơ quan giám định hoàn lại, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng gold, màn hình cảm ứng đã bị nứt vỡ , IMEI: 3543790642509621 thu giữ của bị cáo, không sử dụng mục đích mua bán ma túy nên cần trả lại cho bị cáo H nhưng tạm giữ đảm bảo thi Hnh án.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Thu H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:Phạm Thị Thu H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29 tháng 4 năm 2021.
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định A1= 0.5674gam, A2 = 0.6467g, mẫu nước tiểu và toàn bộ bao gói sau giám định. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng gold, màn hình cảm ứng đã bị nứt vỡ, IMEI: 3543790642509621 nhưng tạm giữ đảm bảo thi hành án. (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 19 tháng 7 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Phạm Thị Thu H phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND thành phố Phúc Yên; - Công an thành phố Phúc Yên; - Thi Hnh án dân sự thành phố Phúc Yên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Quốc Bình |