vanban.org

Bản án 69/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sông Công, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 08/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

*Tuyên bố: Bị cáo H Trọng D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo H Trọng D 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởngán treo. Thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo H Trọng D cho Ủy ban nhân dân xã N huyện Q, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo D có trách nhiệm phối… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hình sự sơ thẩm - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? *Tuyên bố: Bị cáo H Trọng D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THNH PHỐ SÔNG CÔNG
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2021/HS-ST
Ngày 08-11- 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN THNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Bản

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thân

Ông Nguyễn Văn Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Dung, Thư ký Tòa án nhân dân tHnh phố Sông Công

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tHnh phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

H Trọng D, sinh ngày 26 tháng 11 năm 1992 tại huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm D, xã N, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông H Văn P (đã chết) và bà La Thị Kh; vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

( có mặt )

* Người bào chữa cho bị cáo H Trọng D: Bà Nguyễn Thị Dung trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý NH nước tỉnh Thái Nguyên.

( Có mặt )

*Người bị hại: Anh Nguyễn Hoàng H - sinh năm 2002 (đã chết).

* Người đại diện hợp pháp của anh H đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hoàng Th, sinh năm1980; Trú tại: Xóm C, xã K, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng: Anh Lưu Lê Th, sinh năm 1997; Trú tại: Tổ 6, phường V, tHnh phố C, tỉnh Cao Bằng.

(Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 25/6/2021, H Trọng D (có giấy phép lái xe ô tô hạng C, có giá trị đến 09/11/2021) điều khiển xe ôtô tải nhãn hiệu KIA, loại Frontier, K250, biển kiểm soát (BKS) 11C – 055.52 chở anh Lưu Lê T (sinh năm 1997, trú quán tại: Tổ 6, phường V, TP C, tỉnh Cao Bằng) đi từ xã T, huyện P lên xã T, tHnh phố S theo đường Quốc lộ 37, hướng từ tỉnh Bắc Giang -> Thái Nguyên, D và T cùng nhau lên tHnh phố Sông Công đi tìm mua gia cầm. Khi đi đến đoạn đường gần ngã ba, giao nhau với đường Lương Sơn (thuộc địa phận Tổ dân phố (TDP) Phú Thái, phường L, tHnh phố Sông Công thì D điều khiển xe đi gần giữa tim đường để chuyển hướng rẽ trái vào đường Lương Sơn. Khi đi cách ngã ba khoảng 20 mét, D nhìn thấy phía trước, ngược chiều đi của mình có 01 chiếc xe môtô màu xanh, nhãn hiệu HONDA, BKS 98D1 – 786.16 (sau xác định) là anh Nguyễn Hoàng H điều khiển đi ngược chiều, thấy khoảng cách còn khá xa nên D liền đánh lái xe ô tô, điều khiển rẽ chuyển hướng đi vào đường Lương Sơn, trước khi chuyển hướng D không bật đèn tín hiệu báo hướng rẽ của mình, nên khi xe ô tô D điều khiển đi vào đường Lương Sơn được khoảng 03 mét thì xe mô tô anh H đi đến và đâm vào phần cánh cửa bên phải xe ô tô D. Hậu quả: anh H bị thương và được đưa cấp cứu tại Bệnh viện Gang Thép, Thái Nguyên sau đó được chuyển đến Bệnh viện hữu nghị Việt Đức, H Nội tiếp tục điều trị đến ngày 26/6/2021 thì tử vong; xe ô tô và xe mô tô hư hỏng.

* Khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông xác định: Nơi xảy ra tai nạn có là khu vực ngã ba, giao nhau giữa đường ưu tiên (đường quốc lộ 37) với đường không ưu tiên (đường Lương Sơn). Mặt đường Quốc lộ 37 và đường Lương Sơn được trải nhựa bằng phẳng. Phần đường Quốc lộ 37 có chiều rộng 8,0m, ở giữa có vạch sơn đứt quãng màu vàng chia mặt đường tHnh hai chiều đường xe chạy. Lối mở của ngã ba rộng 34,5m.

Lấy mép đường bên phải đường Quốc lộ 37, hướng Bắc Giang -> Thái Nguyên làm chuẩn, lấy cột mốc số H4/114 trên Hnh lang bên phải đường Quốc lộ 37 làm mốc cố định để đo đến các vị trí dấu vết, phương tiện.

+ Việc đánh số thứ tự vị trí phương tiện, tang vật, dấu vết trên hiện trường như sau: Vị trí số 1 là xe mô tô BKS: 98D1 – 786.16; Vị trí số 2 là xe ô tô BKS: 11C – 055.52; Vị trí số 3 là vùng máu, kích thước (0,5x0,2)m; Vị trí số 4 là vùng vỡ nhựa kích thước (4,4x2,6)m; Vị trí số 5 là biển báo hiệu W.207a (Giao nhau với đường không ưu tiên); Vị trí số 6 là biển báo hiệu W.207b (Giao nhau với đường không ưu tiên);Vị trí số 7 là cột mốc H4/114.

Số (1) là xe mô tô BKS: 98D1 – 786.16 được dựng trên hiện trường, đầu xe quay hướng đường Lương Sơn, đuôi xe quay hướng tim đường Quốc lộ 37, tâm bánh trước cách mép đường 8,8m; tâm bánh sau cách mép đường 8,1m.

Số (2) là xe ô tô BKS: 11C – 055.52 đỗ trên mặt đường, đầu xe hướng đường Lương Sơn, đuôi xe hướng tim đường Quốc lộ 37, mặt ngoài bánh phía trước, bên phải cách mép đường 10,85m, cách tâm bánh trước xe mô tô (1) là 1,50m và cách điểm giữa lối rẽ 2,50m; mặt ngoài bánh sau, bên phải cách mép đường 8,35m.

Số (3) là vùng máu, kích thước (0,5x0,2)m, tâm vùng máu cách mép đường 8,90m, cách mặt ngoài bánh xe phía sau xe ô tô (2) là 1,1m.

Số (4) là vùng vỡ nhựa kích thước (4,4x2,6)m, tâm vùng vỡ nhựa cách mép đường 9,0m;

Số (5) là biển báo hiệu W.207a nằm trên Hnh lang bên phải đường Quốc lộ 37 hướng Bắc Giang – Thái Nguyên, cách mép ngoài bánh sau bên phải xe ô tô (2) là 26,90m;

Số (6) là biển báo hiệu W.207b nằm trên Hnh lang bên trái đường Quốc lộ 37 hướng Bắc Giang – Thái Nguyên (Giao nhau với đường không ưu tiên), cách mép ngoài bánh trước, bên phải xe ô tô (2) là 71,0m;

Số (7) là cột mốc H4/114 nằm trên Hnh lang bên phải đường Quốc lộ 37 hướng Bắc Giang -> Thái Nguyên, cách mép ngoài bánh sau, bên phải xe ô tô (2) là 21,70m.

Đo từ mép ngoài bánh trước, bên phải xe (2) đến điểm giữa lối rẽ là 2,50m.

Khám nghiệm phương tiện xe mô tô BKS 98D1- 786.16 có các dấu vết sau:

Ốp nhựa cụm đèn phía trước bị nứt, vỡ, bật vấu, hư hỏng hoàn toàn. Đèn xinhan bên phải vị vỡ rời khỏi xe, hư hỏng hoàn toàn. Giỏ xe bị móp méo, biến dạng, đẩy dồn từ trước về sau, hư hỏng hoàn toàn, chiều hướng từ trái sang phải. Ốp nhựa đầu xe bị vỡ nát, rời khỏi xe, hư hỏng hoàn toàn, giá đỡ ốp nhựa đầu xe bị đẩy dồn từ trước về sau, từ trái qua phải. Cánh yếm bên phải bị nứt, vỡ, bật vấu, hư hỏng hoàn toàn. Cánh yếm bên trái bị nứt, vỡ, bật vấu, đẩy dồn từ trước về sau, từ trái sang phải. Chắn bùn phía trước bánh xe phía trước bị vỡ, rời khỏi xe, hư hỏng hoàn toàn, chắn bùn phía sau bánh xe phía trước bị cong vênh, đẩy dồn từ trước về sau, từ trái sang phải. Càng xe phía trước, bên phải bị cong vênh, đẩy dồn từ trước về sau, từ trái sang phải. Mặt ngoài càng xe phía trước bên trái có vết mài trượt, xước sơn bám dính vật chất màu đen, kích thước (7,5 x 4,6) cm, chiều hướng từ trước về sau, từ phải sang trái, điểm thấp nhất cách mặt đất 25cm và có 01 vết mài trượt bám dính vật chất màu xanh, kích thước (5x 3) cm, chiều hướng từ trước về sau, từ phải sang trái, điểm thấp nhất cách mặt đất 36cm.

Khám nghiệm phương tiện xe ôtô BKS 11C – 055.52 có các dấu vết sau:

Gương chiếu hậu bên phải bên phải bị vỡ, gãy rời khỏi xe, hư hỏng hoàn toàn. Ốp nhựa bađờxốc bảo vệ đầu xe bị bật vấu, phần đầu ốp nhựa bên phải bị nứt, vỡ, trượt xước sơn trên diện tích (45 x 16) cm, chiều hướng từ phải sang trái, từ trước về sau, điểm thấp nhất cách mặt đất 66cm. Ốp nhựa cụm đèn bên phải bị nứt, vỡ, trượt xước trên diện tích (25 x 17) cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 84cm. Cụm đèn gầm phía trước, bên phải bị bật vấu, rời khỏi vị trí ban đầu. Phần khung cabin phía trước, bên trái bị lõm kim loại, bong tróc sơn trên diện tích (78 x 10)cm, chiều hướng từ phải qua trái, từ sau về trước, điểm thấp nhất cách mặt đất 91cm. Phần bản lề bị hư hỏng hoàn toàn. Toàn bộ cánh cửa bên phải bị móp, méo, cong vênh, phần góc dưới phía trước cánh cửa bị trượt xước sơn, bám dính vật chất màu đen, kích thước (96 x 30) cm, chiều hướng từ phải sang trái, từ sau về trước, điểm thấp nhất cách mặt đất 45cm .

Kết luận giám định pháp y tử thi số: 1130 ngày 14/7/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Nguyễn Hoàng H bị tai nạn giao thông, bị tổn thương đa chấn thương, chấn thương đầu mặt, gẫy xương Hm trên, gẫy xương gò má trái, xuất huyết dưới nhện lan tỏa, phù não, chấn thương ngực kín, gẫy xương đòn phải, gẫy xương sườn, đụng dập nhu mô phổi, tràn khí màng phổi trái, gây suy hô hấp cấp, suy tuần hoàn cấp dẫn đến chết.

Kết luận định giá tài sản số: 65/KL-HĐĐGTS ngày 28/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản tHnh phố Sông Công, kết luận: giá trị thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 98D1 – 786.16 là 1.370.000đ; giá trị thiệt hại của xe ôtô nhãn hiệu KIA, số loại Frontier BKS: 11C- 055.52 là: 13.683.000 đồng

Quá trình điều tra bị cáo H Trọng D khai nhận rõ Hnh vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện tai nạn và các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra vụ án .

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H Trọng D và đại diện gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại các khoản với tổng số tiền là 150.000.000đ, Đại diện của người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo D.

Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô BKS 98D1- 786.16, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Hoàng Th (SN 1980, trú tại: xóm C, xã K, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên), anh Th không có lỗi khi cho Nguyễn Hoàng H mượn chiếc xe mô tô trên nên Cơ quan CSĐT Công an tHnh phố Sông Công đã trả lại chiếc xe và giấy tờ xe cho anh Th quản lý, sử dụng . Về chiếc xe ôtô BKS 11C – 255.52 quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Lưu Lê T, xét thấy không cần thiết phải tạm giữ chiếc xe trên, nên Cơ quan CSĐT đã trả lại xe ô tô và các giấy tờ xe cho cho anh T quản lý, sử dụng.

Đối với giấy phép lái xe hạng C, số 040163003559 mang tên H Trọng D do sở giao thông vận tải tỉnh Cao Bằng cấp ngày 09/11/2016 và 01 chiếc đĩa DVD chứa đoạn Video ghi lại diễn biến vụ án tai nạn giao thông được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKSSC ngày 21/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố Sông Công đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và Điều luật áp dụng.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo H Trọng D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

- Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS năm 2015;

- Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và gia đình người bị hại.

Vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS trả lại Giấy phép lái xe ô tô số số 040163003559 hạng C mang tên H Trọng D cho bị cáo D.

Miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Bị cáo H Trọng D không tranh luận, thừa nhận toàn bộ Hnh vi của mình đúng như Kết luận điều tra và Cáo trạng tuy tố, bị cáo đã nhận thức Hnh vi của mình là vi phạm pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng cũng như biện pháp cải tạo Kiểm sát viên đã đề nghị tại phiên tòa.

Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tHnh phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ Hnh vi của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản sự việc, sơ đồ hiện trường và phù hợp với các kết quả giám định, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm cùng các tài liệu chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Vào hồi 15 giờ 40 phút ngày ngày 25/6/2021, tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Quốc lộ 37 với đường Lương Sơn, thuộc địa phận TDP Phú Thái, phường Lương Sơn, tHnh phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, H Trọng D có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe ô tô BKS 11C - 055. 52 không chấp Hnh đúng quy định của luật giao thông đường bộ về chuyển hướng xe, nên đã xảy ra tai nạn với xe mô tô BKS 98D1 - 786.16 do Nguyễn Hoàng H điều khiển đi hướng ngược chiều. Hậu quả làm anh H bị tử vong.

Hnh vi nêu trên của H Trọng D đã vi phạm khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, cụ thể như sau:

Điều 15. Chuyển hƣớng xe

1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.

2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước ... cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.

Hnh vi của bị cáo đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu tHnh của tội phạm “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự, nội dung điều luật như sau:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người...”

Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của Hnh vi phạm tội: Là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, tính mạng sức khỏe của nhân dân tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều tHnh khẩn khai báo, tại phiên tòa bị cáo đã ăn năn hối cải về Hnh vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại được gia đình người bị hại đồng ý và đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Căn cứ vào tính chất của vụ án, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo HĐXX xét thấy: Mặc dù hậu quả xảy ra là chết người, nhưng sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã thăm hỏi động viên, bồi thường cho cho gia đình người bị hại và được gia đình người bị hại đồng ý và đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hậu quả xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo, xét thấy bị cáo phạm tội do lỗi vô ý lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 cũng như khoản 2, Điều 51 BLHS và đặc biệt được được gia đình bị hại cảm thông chia sẻ và có đơn xin cho bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần cải tạo dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở tHnh người công dân tốt cho gia đình và xã hội nên cần áp dụng Điều 65 BLHS đối với Hnh vi phạm tội của bị cáo.

Biện pháp cải tạo, mức án mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa hôm nay xét thấy là phù hợp thể hiện được sự khoan hồng của đảng và NH nước đối với những người phạm tội do lỗi vô ý, sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải, tHnh khẩn khai báo tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa phù hợp tài liệu trong hồ sơ cũng như diễn biến tại phiên tòa nên cần được chấp nhận.

[5] Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và gia đình người bị hại.

Về chiếc xe ôtô BKS 11C – 255.52 quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Lưu Lê T, anh T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về thiệt hại của chiếc xe nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 98D1- 786.16, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Hoàng Thạch, anh Thạch không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác về thiệt hại của chiếc xe nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Cần trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô số 040163003559 hạng C mang tên H Trọng D.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn do đó miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo, đại diện người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 106, 136Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

*Tuyên bố: Bị cáo H Trọng D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo H Trọng D 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởngán treo. Thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo H Trọng D cho Ủy ban nhân dân xã N huyện Q, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo D có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi Hnh án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp Hnh hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

*Trách nhiệm dân sự:Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và gia đình người bị hại (Đã bồi thường xong số tiền 150 triệu đồng)

*Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo H Trọng D 01 Giấy phép lái xeô tô số 1040163003559hạng C do sở GTVT tỉnh Cao Bằng cấp ngày 09/11/2016 (Kèm theo hồ sơ vụ án)

*Về án phí: Miễn án phí hình sự cho bị cáo H Trọng D.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo,người đại diện người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt, 15 ngày kể từ ngày được tống đạt, niêm yết bản án theo quy định đối với người vắng mặt.

Cỡ chữ