vanban.org

Bản án 69/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 09/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Dƣơng Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,1359 gam ma túy Methamphetamine (sau khi trừ mẫu giám định); 01 túi nilon kích thước 1,5cm x 1,5 cm; 01 khẩu trang. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Ngọc H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Dƣơng Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2021/HS-ST
Ngày: 09/11/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Minh Thư

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thái

Bà Võ Thị Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2021 tại hội trường xét xử Hình sự, Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Dƣơng Ngọc H; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 26/12/1989 tại phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ dân phố …8, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Dương Ngọc H1 (Đã chết); Con bà Trần Thị H; Vợ con: Chưa có.

Tiền án: 01. Ngày 18/5/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo Bản án số 157/2018/HSST. Thi hành án phạt tù tại Trại giam Xuân Hà, tỉnh Hà Tĩnh đến ngày 19/01/2020 chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 12/12/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 14 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án số 48/2007/HSST. Thi hành án phạt tù tại Trại giam Đồng Sơn, tỉnh Quảng Bình đến ngày 30/8/2008 chấp hành xong hình phạt tù. Hiện đã chấp hành xong bản án, khi phạm tội dưới 18 tuổi;

- Ngày 25/12/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án số 58/2008/HSST. Thi hành án phạt tù tại Trại giam Đồng Sơn, tỉnh Quảng Bình đến ngày 21/6/2009 chấp hành xong hình phạt tù. Hiện đã chấp hành xong bản án và đã xóa án tích;

- Ngày 29/9/2010, bị Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh áp dụng khoản 2 Điều 138 khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 51 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, theo Bản án số 19/2010/HSST. Thi hành án phạt tù tại Trại giam Đồng Sơn, tỉnh Quảng Bình đến ngày 04/02/2014 chấp hành xong hình phạt tù. Hiện đã chấp hành xong bản án và đã xóa án tích;

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Hậu S, sinh năm 1970; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại: Tổ dân phố …4, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (có đơn xin vắng mặt).

2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968; Nghề nghiệp: Không; Trú tại: Số nhà …2A, hẻm ..1, ngõ …48, đường H, khối …3, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An (có đơn xin vắng mặt).

- Người chứng kiến: Ông Lê Viết T, sinh năm 1948; Trú tại: Tổ …4, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 00 phút ngày 25/6/2021, tại trước nhà số ..8, ngõ …8, đường X, thuộc tổ dân phố …4, phường B, thành phố H, tổ công tác Công an thành phố Hà Tĩnh phát hiện Dương Ngọc H đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Future biển kiểm soát 37F9-…89 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra thì H vứt một chiếc khẩu trang y tế xuống đất. Lực lượng yêu cầu H nhặt chiếc khẩu trang lên phát hiện mặt trong khẩu trang bị đục thủng 01 lỗ nhỏ trong đó có dấu 01 túi nilon trong suốt kích thước 1,5cm x 1,5cm đựng chất tinh thể màu trắng. Dương Ngọc H khai chất tinh thể màu trắng trong túi nilon được H dấu trong khẩu trang là ma túy đá H mua để sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 127/GĐMT-PC09 ngày 28/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Chất tinh thể trắng chứa trong 01 túi nilon trong suốt kích thước 1,5cm x 1,5cm gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1635 gam, là Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 323, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Kết quả điều tra xác định được như sau: Khoảng 16 giờ ngày 25/6/2021, Dương Ngọc H đang ở nhà tại số nhà …9, ngõ …1 đường Đ, tổ dân phố …8, phường N, thành phố H thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã sử dụng điện thoại di động Nokia 105 gắn số thuê bao 0973041… gọi cho người tên H (thường gọi H H ở phường N, thành phố H) có số điện thoại 0943487… hỏi mua 400.000 đồng ma túy thì HH đồng ý. HH hẹn H đến đường H gần chợ thành phố H để giao dịch. Sau đó H đi xe mô tô Honda Future mang biển kiểm soát 37F9-…89 (là xe H mượn của ông Trần Hậu S, sinh năm 1970, trú tại phường B, thành phố H từ trước để làm phương tiện đi lại) đi đến điểm hẹn gặp và đưa cho HH số tiền 400.000 đồng. HH cầm tiền và bảo H đi đến ngõ …1 H, thành phố H phía bờ tường có 01 chiếc khẩu trang, ma túy trong đó. H đi đến khu vực HH chỉ điểm thì thấy có một chiếc khẩu trang màu xám thì H biết ma túy dấu trong khẩu trang. H cầm lấy khẩu trang có dấu ma túy bên trong và điều khiển xe mô tô 37F9-…89 đi tìm nơi sử dụng. Hồi 17 giờ 00 ngày 25/6/2021, khi Dương Ngọc H đi đến trước nhà số …8, ngõ …8 đường X thuộc tổ dân phố …4, phường B, thành phố H thì bị lực lượng Công an thành phố Hà Tĩnh kiểm tra, do hoảng sợ nên H vứt chiếc khẩu trang có ma túy xuống đường để bỏ chạy thì bị lực lượng Công an khống chế bắt qủa tang.

Về vật chứng: 01 xe mô tô 37F9-...89 thu giữ tại Dương Ngọc H đã được Cơ quan điều tra trả lại chủ sở hữu là ông Trần Hậu S. Còn lại 01 khẩu trang, 0,1635 gam ma túy Methamphetamine (sau khi trừ mẫu giám định còn 0,1359 gam), 01 túi nilon kích thước 1,5cm x 1,5cm, 01 điện thoại Nokia 105 đã qua sử dụng thu giữ tại Dương Ngọc H được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tĩnh để xử lý theo quy định.

Bản cáo trạng số 73/CT-VKSTPHT ngày 06/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh truy tố Dương Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh giữ nguyên quan điểm như nội dung cáo trạng truy tố; Trong phần luận tội và tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Dương Ngọc H từ 24 đến 30 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1359 gam ma túy Methamphetamine, 01 túi nilon, 01 khẩu trang; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại Nokia 105 đã qua sử dụng.

Bị cáo Dương Ngọc H không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được sai phạm và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Về chứng cứ xác định tội danh:

Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thành phố Hà Tĩnh lập hồi 17 giờ 00 phút ngày 25/6/2021 tại khu vực trước số nhà ...8, ngõ ...8, đường X thuộc tổ 4, phường B, thành phố H; phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến; phù hợp với các vật chứng vụ án được thu giữ; Kết luận giám định số 127/GĐMT- PC09 ngày 28/6/2021của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, xác định được: 17 giờ 00 phút ngày 25/6/2021 tại khu vực trước số nhà ...8, ngõ ...8, đường X thuộc tổ 4, phường B, thành phố H, Dương Ngọc H đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1635 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an thành phố Hà Tĩnh bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật. Bị cáo Dương Ngọc H có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ kết tội bị cáo Dương Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. [4]Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Dương Ngọc H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chề độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội gây mất trật tự trị an trên địa bàn, bị cáo đang có tiền án. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong vụ án này, theo lời khai của Dương Ngọc H khai mua ma túy của người có tên HH ở phường N, thành phố H sử dụng số điện thoại 0943487... để liên lạc bán ma túy. Kết quả xác minh tại tổ dân phố ...9, phường N, thành phố H có người tên Trần Quốc H, sinh năm 1986 nhưng quá trình điều tra HH không có mặt tại địa phương. Còn số điện thoại 0943487..., theo kết quả tra cứu thông tin thuê bao di động Vinaphone Trung tâm kinh doanh VNPT Hà Tĩnh thì chủ đăng ký thuê bao là Trần Thị Tuyết A, địa chỉ tại phường T, thành phố H nhưng hiện tại chị Trần Thị Tuyết A không có mặt tại địa phương. Vì vậy Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ sau là phù hợp.

Đối với ông Trần Hậu S cho Dương Ngọc H mượn xe mô tô Honda Future biển kiểm soát 37F9-...89 nhưng không biết H sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô 37F9-...89 cho chủ sở hữu là ông Trần Hậu S là phù hợp.

- Cần tịch thu tiêu hủy 01 chiếc khẩu trang; 0,1359 gam ma túy Methamphetamine (sau khi trừ mẫu giám định), 01 túi nilon kích thước 1,5cm x 1,5cm.

- Cần tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Nokia 105 là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Dƣơng Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Dƣơng Ngọc H 27 (hai mƣơi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2021.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 0,1359 gam ma túy Methamphetamine (sau khi trừ mẫu giám định); 01 túi nilon kích thước 1,5cm x 1,5 cm; 01 khẩu trang.

- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Nokia 105 là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng lập hồi 16 giờ 00 phút ngày 11/10/2021 giữa cán bộ cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Tĩnh và cán bộ Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tĩnh).

* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, buộc bị cáo Dương Ngọc H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ