vanban.org

Bản án 69/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 21/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2021/HS-ST
Ngày: 21-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phá n – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Quốc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Thượng;

2. Ông Bùi Đắc Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân huyê ̣n Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân huyê ̣n Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lang – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyê ̣n Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số : 68/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2020 đối vớ i bị cáo:

Trần Thị Y (Xẻo), sinh năm 1984, tại tỉnh Bình Phước; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã T, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc M và bà Đỗ Thị X; chồng, con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 11-9-2020 bị Trưởng Công an Phường 2, thành phố Tây Ninh xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép mà được, thu bằng tiền, hiện vật”, tại Quyết định số 82/QĐ-XPVPHC, đã nộp tiền phạt vào ngày 22-9-2020.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thị Y bị xử phạt vi phạm hành chính vào ngày 11-9-2020, về hành vi “Đánh bạc trái phép mà được, thu bằng tiền, hiện vật” nhưng chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng khoảng 12 giờ ngày 11-3-2021, tại nhà của Nguyễn Thị P thuộc ấp H, xã T, huyện Tân Châu, Trần Thị Y tiếp tục cùng Huỳnh Ngọc M, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Hồng Y và Nguyễn Thị D đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức chơi bài cào đếm nút (tên gọi của nước Campuchia là bài Kàđun), mỗi người đặt cược 20.000 đồng/1 ván, người nào có số nút cao nhất thắng hết số tiền đặt trên chiếu bạc đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày thì bị bắt quả tang, tiền thu trên chiếu bạc là 3.550.000 đồng. Trong đó, Trần Thị Y dùng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, Phỉ dùng số tiền 50.000 đồng để đánh bạc, Hồng Y dùng số tiền 600.000 đồng để đánh bạc, T dùng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc, M dùng 100.000 đồng dùng để đánh bạc, D giúp Trần Thị Y đánh 01 ván, không có bỏ tiền ra và số tiền còn lại không xác định được của ai.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị Y đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Tang vật tạm giữ: 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 cái dĩa, 01 cái mền và số tiền Việt Nam 3.550.000 đồng.

* Về kê biên tài sản: Trần Thị Y không có tài sản nên Cơ quan điều tra không tiến hành kê biên.

Tại Bản Cáo trạng số 74/CT-VKSTC ngày 23-8-2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Trần Thị Y về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Thị Y về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Y từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt bổ sung bị cáo Trần Thị Y số tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý vật chứng, tài sản thu giữ trong vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Thị Y không tranh luận và không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trần Thị Y đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử lý hành chính nhưng đến ngày 11-3-2021, Y tiếp tục cùng nhiều người đánh bạc được thắng, thua bằng tiền thì bị phát hiện bắt quả tang, cùng tổng số tiền thu tại chiếu bạc là 3.550.000 đồng. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Thị Y phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Bản cáo trạng đã nêu và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.

Khi quyết định hình phạt cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng, có thể tự cải tạo nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo mức án cải tạo không giam giữ và giao cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú cùng gia đình có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo và đồng thời cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do bị cáo là người lao động tự do không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo.

Xử lý vật chứng:

Đối với 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 cái dĩa, 01 cái mền là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng và vật có giá trị không đáng kể nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền Việt Nam 3.550.000 đồng thu trên chiếu bạc là tiền dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung bị cáo Trần Thị Y số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.

Đối với Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị T, Huỳnh Ngọc M, Trần Thị D và Huỳnh Thị Hồng Y có hành vi đánh bạc nhưng chưa đến mức xử lý hình sự nên Công an xã T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thị Y (Xẻo) 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.

Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Trần Thị Y (Xẻo) cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Y có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Y. Trường hợp bị cáo Y thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án Hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo Trần Thị Y (Xẻo).

Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 45/QĐ ngày 30-6-2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đối với Trần Thị Y (Xẻo).

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung bị cáo Trần Thị Y số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.

3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 cái dĩa, 01 cái mền.

Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước: 3.550.000 (ba triệu, năm trăm năm mươi nghìn) đồng tiền Việt Nam.

(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21-9-2021).

4. Về án phi hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Thị Y (Xẻo) phải chịu 200.000

́ (hai trăm nghìn) đồng tiền án phi hinh sự sơ thẩm.

́ ̀

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Thị Y (Xẻo) có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ