vanban.org

Bản án 69/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 04/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mạc Văn H phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Mạc Văn H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/7/2021.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín, trên mặt phong bì ghi số 591/KLGĐ-PC09-MT, bên trong gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1753 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì thư dán k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mạc Văn H bị truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mạc Văn H phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Mạc Văn H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/7/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 69/2021/HS-ST
Ngày 04 tháng 11 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH N

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hữu Quốc.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Công Hiến, ông Trần Văn Lâm.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh, là Thư ký Toà án nhân dân huyện G, tỉnh N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh N tham gia phiên toà: bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 04/11/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện G, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2021/TLST- HS ngày 11/10/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2021/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 10 năm 2021, đối với bị cáo:

Mạc Văn H, tên gọi khác: không, sinh năm 1982 tại phường A, thị xã K, tỉnh H.

Nơi cư trú: Kh, phường A, thị xã K, tỉnh H; nghề nghiệp: thuyền viên; giới tính: nam; trình độ văn hóa: lớp 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Mạc Trọng A và bà Hoàng Thị V; có vợ là Trần Thị Đ và 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tại Bản án số 10 ngày 04/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh H, xử phạt Mạc Văn H 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc” đã được xóa án; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/7/2021, chuyển tạm giam ngày 29/7/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay. Có mặt.

Người làm chứng: các ông Lưu Văn C, Đinh Xuân Th. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mạc Văn H là thuyền viên trên tàu thủy số hiệu HD 9119 chở hàng tuyến Hải Dương – Ninh Bình và là người sử dụng trái phép chất ma túy từ đầu năm 2021 đến nay. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/7/2021, khi tàu thủy số hiệu HD 9119 đang neo đậu tại bến cảng Cường Chì thuộc địa phận xã Y, huyện Ý, tỉnh N, thì H có nhu cầu sử dụng ma túy, H đi lên bờ rồi đi bộ đến khu vực chân cầu Non Nước thuộc địa phận xã Y để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực gần chân cầu Non Nước, H thấy một người đàn ông không quen biết đang ngồi trên một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream ( H không nhớ Biển kiểm soát) dừng ở lề đường. H đến gần và hỏi: “Anh ơi có bán đồ không, em mua ít đá” – Ý H hỏi mua ma túy. Người đàn ông nói: “Đưa tiền đây”. H lấy số tiền 500.000 đồng đưa cho người đàn ông. Người đàn ông cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô đi về hướng thành phố Nam Định, khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho H 01 túi nilon màu trắng kích thước (2 x 2,5) cm, miệng túi có đường viền màu xanh, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng. Xác định túi nilon chứa ma túy đá nên H cầm ở tay phải rồi đi bộ đến chân cầu Non Nước, bắt xe ôm đi đến đường đê thuộc địa phận thôn 1, xã Gi, huyện G để tìm một người đàn ông mà H đã gặp vài lần làm nghề xe ôm tại khu vực chân cầu Gián Khẩu ( H không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của người này) với mục đích xin vào nhờ nhà người đàn ông để nghỉ ngơi và sử dụng ma túy. Đến 15 giờ 00 phút cùng ngày, khi H đang đi bộ trên đường đê sông Đáy, thuộc thôn 1 xã Gia Trấn, thì gặp lực lượng Công an xã Gi đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn. Lo sợ bị phát hiện về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy của mình, H đã bỏ túi nilon chứa ma túy vào trong miệng nhưng bị lực lượng Công an phát hiện yêu cầu kiểm tra. H đã lấy túi ma túy đá từ trong miệng ra giao nộp cho lực lượng Công an và H khai nhận đó là túi ma túy H vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Công an kiểm tra túi nilon màu trắng vừa thu giữ của H có kích thước (2 x 2,5) cm, miệng túi có đường viền màu xanh, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng. Công an xã Gia Trấn thu giữ và niêm phong túi nilon có đặc điểm nêu trên của H; ngoài ra còn thu giữ của H số tiền 700.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của Mạc Văn H, có khối lượng 0,256 gam, lấy mẫu ký hiệu M, để gửi đi xác định khối lượng và giám định chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 591/KLGĐ-PC09-MT ngày 29/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận:

Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2490 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

- Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1753 gam, là ma túy, loại Methamphetamine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.

(Tất cả được niêm phong trong một phong bì có ghi số 591/KLGĐ-PC09-MT, cùng thông tin về vụ việc và vật chứng).

Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã ra quyết định chuyển số tiền 700.000 đồng đến tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G; chuyển 01 phong bì dán kín, trên mặt phong bì ghi số 591/KLGĐ-PC09-MT, bên trong gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1753 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì thư dán kín niêm phong theo quy định pháp luật, bên trong gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2 x 2,5) cm, miệng túi có đường viền màu xanh; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G.

Quá trình điều tra, Mạc Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nêu trên của mình.

Tại Bản cáo trạng số 71/CT-VKS-GV ngày 11/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã truy tố Mạc Văn H ra trước Tòa án nhân dân huyện G để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1, 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về kết luận giám định và Bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện G thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Mạc Văn H như nội dung Bản cáo trạng. Sau khi luận tội đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Mạc Văn H phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Xử phạt bị cáo Mạc Văn H từ 18 (mười tám) tháng tù đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/7/2021; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín, trên mặt phong bì ghi số 591/KLGĐ-PC09-MT, bên trong gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1753 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì thư dán kín niêm phong theo quy định pháp luật, bên trong gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2 x 2,5) cm, miệng túi có đường viền màu xanh; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; trả lại cho bị cáo Mạc Văn H số tiền 700.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì. Được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Phân tích các chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa bị cáo H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo cùng các chứng cứ khác thể hiện rõ: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 13 giờ 45 phút ngày 20/7/2021, H đi bộ đến khu vực chân cầu Non nước thuộc địa phận xã Y, huyện Ý, tỉnh N gặp và mua được từ một người đàn ông không quen biết 01 túi nilon màu trắng kích thước (2 x 2,5) cm, miệng túi có đường viền màu xanh, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng với số tiền là 500.000 đồng. Tuy không mở ra kiểm tra nhưng H xác định bên trong 01 túi nilon là ma túy nên cầm lấy rồi đi về. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, khi H đang đi bộ trên đường đê sông Đáy, thuộc thôn 1 xã Gi, huyện G thì gặp Công an xã Gi làm nhiệm vụ, H đã bỏ 01 túi nilon mua được vào miệng nhưng bị lực lượng Công an phát hiện yêu cầu kiểm tra. Lực lượng Công an đã thu giữ và niêm phong túi nilon có đặc điểm nêu trên. Như vậy, rõ ràng bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép 0,2490 gam Methamphetamine đúng như kết luận giám định, Bản cáo trạng đã mô tả nêu trên nhằm để sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, với kết luận giám định, với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng của vụ án đã được thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy’’. Căn cứ tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo và khối lượng Methamphetamine mà bị cáo tàng trữ, Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1, 5 Điều 249 của BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy.

. Bản thân bị cáo là người đã thành niên nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, học tập mà sớm sa vào con đường nghiện ngập ma túy dẫn đến phạm tội. Ma tuý là một tệ nạn mà Nhà nước ta đang ra sức loại trừ, vì ma tuý mà nhiều gia đình bị khuynh gia bại sản, vợ chồng ly tán. Ma tuý ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, là hiểm họa gây nên căn bệnh HIV/AIDS, ảnh hưởng đến sự phát triển của giống nòi, đồng thời là nguyên nhân gây nên một loạt các loại tội phạm khác.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét bị cáo là người có nhân thân xấu nên cần có một hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo bằng việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội đồng thời góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện hoàn cảnh bản thân của bị cáo H là con nghiện, việc tàng trữ ma túy chỉ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo còn nuôi con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H là thỏa đáng.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì dán kín, trên mặt phong bì ghi số 591/KLGĐ-PC09-MT, bên trong gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1753 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì thư dán kín niêm phong theo quy định pháp luật, bên trong gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2 x 2,5) cm, miệng túi có đường viền màu xanh; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 700.000 đồng thu giữ của Mạc Văn H, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định số tiền trên là của H không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho H, nhưng tiếp tục quản lý 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo H ngày 20/7/2021 (theo lời khai của H) ở khu vực chân cầu Non nước thuộc địa phận xã Y, huyện Ý Yên, tỉnh N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên đây:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 BLHS; các Điều 106, 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:

1. Tuyên bố bị cáo Mạc Văn H phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Mạc Văn H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/7/2021.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín, trên mặt phong bì ghi số 591/KLGĐ-PC09-MT, bên trong gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1753 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì thư dán kín niêm phong theo quy định pháp luật, bên trong gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2 x 2,5) cm, miệng túi có đường viền màu xanh; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

- Trả lại cho bị cáo Mạc Văn H số tiền 700.000 đồng, nhưng tiếp tục quản lý 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án. (Đặc điểm chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2021 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện G và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G).

3. Về án phí: buộc bị cáo Mạc Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người phải thi hành án, người được thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ