vanban.org

Bản án 69/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 20/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T và bị cáo Lê Thị Cẩm C phạm tội “Đánh bạc”;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T 20.000.000 đồng. Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Cẩm C 20.000.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T và bị cáo Lê Thị Cẩm C phạm tội “Đánh bạc”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2021/HS-ST
Ngày 20 - 12 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Sang

Bà Nguyễn Thị T Liễu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hậu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Liệt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

1. Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1974 tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: ấp ĐH, xã PH, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1941 (chết) và bà Trần Yến N, sinh năm 1942; chồng: Võ Thành Đ, sinh năm 1974; con: có 02 người, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2002; tiền sự: 01 lần, vào ngày 14/01/2021 Nguyễn Thị Ngọc T bị Công an xã Phước Hảo, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.000.000 đồng; tiền án: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/8/2021 cho đến nay (Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa).

2. Lê Thị Cẩm C, sinh năm 1987, tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: ấp V N, xã P H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Công D, sinh năm 1955 (chết) và bà Trương Thị D, sinh năm 1957; chồng: Nguyễn Văn M, sinh năm 1987; con: có 03 người, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2021; tiền sự: 01 lần, vào ngày 18/12/2020 Lâm Thị Cẩm C bị Công an xã Phước Hảo, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.000.000 đồng; tiền án: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/8/2021 cho đến nay (Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Tạ Thị D, sinh năm 1961 (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp ĐH, xã P H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

2. Bà Tăng Thị Hồng H, sinh năm 1974 (vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp Đ H, xã P H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

3. Bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1964 (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp ĐH, xã PH, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

4. Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh ngày 20/02/1960 (có mặt);

Nơi cư trú: khóm 3, phường 6, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

5. Ông Nguyễn Hồng T, sinh năm 1986 (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp V N, xã P H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Những người làm chứng:

1. Phạm Ngọc D, sinh năm 1973 ( vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp N H, xã P H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

2. Lâm Văn H, sinh năm 1974 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp N H, xã PH, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

3.Trần Thị X, sinh năm 1960 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp V N, xã P H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ, ngày 22/6/2021, sau khi tiếp nhận tin báo của quần chúng nhân dân phía sau nhà của Phạm Ngọc D, sinh năm 1973, tọa lạc ấp N H, xã P H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh có các đối tượng đánh bài ăn thua bằng tiền, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành kết hợp Công an xã Phước Hảo tiến hành kiểm tra nhà bà D phát hiện những người đang đánh bài Tứ sắc ăn thua bằng tiền nên đã lập biên bản đối với những người trên gồm:

Lâm Văn H, sinh năm 1974, ngụ ấp N H, xã P H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Trần Thị X, sinh năm 1960 và Lê Thị Cẩm C, sinh năm 1987, cùng ngụ ấp V N, xã P H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1974, ngụ ấp Đa Hậu, xã Phước Hảo, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Tang vật thu giữ tại hiện trường, gồm: 01 Cếc Cếu; 01 bộ bài tứ sắc đang sử dụng; 04 bộ bài tứ sắc chưa sử dụng; tiền trên Cếu bạc 240.000 đồng; 01 rỗ nhựa màu trắng, bên trong rỗ có 40.000 đồng.

Kiểm tra trên người và thu giữ:

Lâm Văn H: số tiền 3.530.000 đồng; 01 xe mô tô biển số 84B1- 667.98; 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung, đã cũ, trầy xướt nhiều nơi; 01 giấy chứng minh nhân dân tên Lâm Văn H.

Lê Thị Cẩm C: Số tiền 120.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Vi Vo, đã cũ, trầy xướt nhiều nơi.

Nguyễn Thị Ngọc T: số tiền 12.440.000 đồng; 01 xe mô tô biển số 84B1- 572.19; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus, đã cũ, trầy xướt nhiều nơi.

Qua điều tra, các đối tượng khai nhận:

Khoảng 14 giờ, ngày 22/6/2021, Nguyễn Thị Ngọc T, Lâm Văn H, Lê Thị Cẩm C và Trần Thị X đến nhà của bà Phạm Ngọc D và cùng nhau rủ chơi đánh bài Tứ sắc ăn thua bằng tiền. D đem Cếu và bài cho tất cả cùng chơi. Khi bắt đầu chơi, số tiền dùng để đánh bạc của từng người như sau: H đem theo 3.730.000 đồng và sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc; X đem theo 90.000 đồng, C đem theo 200.000 đồng, X và C sử dụng hết số tiền đem theo vào việc đánh bạc; T đem theo 12.440.000 đồng, sử dụng 200.000 đồng đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc là 890.000 đồng. Hình thức chơi bài là 04 người ngồi 04 tụ, ván bài đầu tiên sẽ cử một người chia bài (người làm cái), người làm cái được chia 21 lá bài, những người còn lại mỗi người 20 lá bài; số lá bài còn lại để ở giữa gọi là nọc. Đầu tiên, người làm cái đánh trước một lá bài, nếu người ngồi kế, bên phải người làm cái có lá bài giống, ghép đôi được với lá bài người làm cái đánh sẽ được ăn, nếu không thì người này sẽ rút 01 lá bài trong số bài nọc ở giữa (gọi là kéo), nếu lá bài kéo này vẫn không ăn được lá bài của người làm cái nhưng trên tay người kéo có lá bài giống với lá bài kéo thì sẽ được ăn, nếu không có thì sẽ bị mất lượt, lượt chơi sẽ chuyển cho người ngồi tụ kế tiếp bên phải. Việc chơi bài cứ thế cho đến khi bài của tụ nào hết bài lẻ (bài rác) thì thắng. Hình thức thắng này gọi là thắng thường. Nếu hết bài rác mà tụ bài nào có 04 lá bài giống nhau gọi là thắng quan. Các tụ quy định số tiền ăn thua ở ván đầu: thắng thường thì thắng ba tụ còn lại mỗi tụ 5.000 đồng, nếu thắng quan thì thắng ba tụ còn lại mỗi tụ 10.000 đồng. Nhưng khi chơi ván đầu xong thì không ai có tiền lẻ nên bỏ ván đầu không tính thắng thua. Bốn tụ bài quy định lại là: thắng thường thì thắng ba tụ còn lại mỗi tụ 10.000 đồng, thắng quan thì thắng ba tụ còn lại mỗi tụ 20.000 đồng. Hình thức trả tiền thắng thua là tiền để trong người khi nào thua thì lấy ra đưa cho tụ thắng. Ngoài ra, 04 tụ chơi còn quy định, ai thắng quan thì để vào rỗ nhựa màu trắng 5.000 đồng để D mua bài, nước uống và cho cháu của D đi học. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì Công an vào kiểm tra, lập biên bản và tạm giữ tang vật trên. Số tiền 240.000 đồng trên chiếu bạc là của H.

Khi Công an vào kiểm tra thì C thua 40.000 đồng; H thắng 40.000 đồng; X thua 90.000 đồng; T không thắng không thua.

Về nhân thân: Lâm Văn H, Trần Thị X chưa có tiền án, tiền sự nên Công an xã Phước Hảo ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc và tịch thu sung ngân sách số tiền 440.000 đồng Hiền dùng để đánh bạc.

Riêng Nguyễn Thị Ngọc T và Lê Thị Cẩm C có 01 tiền sự về hành vi “Đánh bạc”, đến khi thực hiện hành vi lần này chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Ngoài ra, cũng tại nhà sau của Phạm Ngọc D, khi Công an vào kiểm tra phát hiện D cùng Ngô Thị G, sinh năm 1964, ngụ ấp N H, xã P H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh; Nguyễn Thị H – sinh năm 1975, Nguyễn Văn H – sinh năm 1966, cùng ngụ ấp V N, xã P H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, đang đánh bài Tứ sắc ăn thua bằng tiền ở Cếu bạc khác. Tuy nhiên, số tiền dùng để đánh bạc của những người tham gia ở Cếu bạc này là 800.000 đồng (D 200.000 đồng; G 200.000 đồng; H 200.000 đồng; Hoa 200.000 đồng), không đủ định lượng 5.000.000 đồng, nhân thân của D, G, H và H, chưa có tiền án, tiền sự nên Công an xã Phước Hảo đã tách lập biên bản riêng và đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Ngọc D, Ngô Thị G, Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị H mỗi người 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.

Về vật chứng:

Hiện tại, Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành còn tạm giữ tiền và đồ vật thu giữ lúc kiểm tra, gồm: 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng; 04 bộ bài tứ sắc chưa sử dụng; 01 Cếc Cếu; 01 xe mô tô biển số 84B1-572.19; tiền Việt Nam 12.600.000 đồng; 01 rỗ nhựa màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu ViVo; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus.

Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKS-CT ngày 01/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T và bị cáo Lê Thị Cẩm C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay qua tranh luận công khai, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành thực hiện quyền công tố quyết định giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, kết luận bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T và bị cáo Lê Thị Cẩm C phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vị đại diện Viện kiểm sát đã phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là sau khi phạm tội, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thật thà khai báo, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo T có người thân tham gia cách mạng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo C phạm tội khi đang mang thai quy định tại điểm n, khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Vị đại viện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T; Áp dụng Khoản 1 Điều 321, điểm i, s, n khoản 1, điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thị Cẩm C xử phạt bị cáo Lê Thị Cẩm C và bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T mỗi bị cáo số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Ngoài ra, Vị đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí.

Về phía bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T và bị cáo Lê Thị Cẩm C thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng, bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của Vị đại diện Viện kiểm sát mà các bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T và bị cáo Lê Thị Cẩm C: Bị cáo ăn năng hối cải mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa hôm nay lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T và bị cáo Lê Thị Cẩm C là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan Điều tra, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm phạm tội, công cụ, dụng cụ dùng vào việc phạm tội, số tiền dùng vào việc phạm tội, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 15 giờ, ngày 22/6/2021, tại nhà sau của bà Phạm Ngọc D tọa lạc ấp Ngãi Hòa, xã Phước Hảo, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, Lâm Văn H, Trần Thị X, Nguyễn Thị Ngọc T và Lê Thị Cẩm C cùng tham gia đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài tứ sắc, với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 890.000 đồng. Số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng ngày 14/01/2021, Nguyễn Thị Ngọc T bị Công an xã Phước Hảo, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc đến ngày 25/6/2021 bị cáo T nộp phạt và ngày 18/12/2020, Lê Thị Cẩm C bị Công an xã Phước Hảo, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, bị cáo chưa nộp phạt đến khi thực hiện hành vi lần này bị cáo T và C vẫn chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Đây là tình tiết định tội nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T và bị cáo Lê Thị Cẩm C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đối Trần Thị X và Lâm Văn H đã bị xử phạt hành chính.

Xét tính chất, mức độ của vụ án là ít nghiêm trọng, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T và bị cáo Lê Thị Cẩm C có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe lao động tạo nguồn thu nhập chân chính cho bản thân như người khác trong xã hội mà không chăm chỉ lao động muốn có tiền tiêu xài cá nhân một cách nhẹ nhàng nên bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T và bị cáo Lê Thị Cẩm C đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép với hình thức đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý trực tiếp và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng theo quy định của Bộ luật Hình sự, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng vì động cơ tư lợi nên đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép với người khác nhằm Cếm đoạt tiền của nhau; đồng thời, hành vi đánh bạc đã và đang xảy ra ở nhiều nơi, gây mất trật tự công cộng, vì vậy cần phải xét xử đảm bảo tính nghiêm minh và kỷ cương của pháp luật. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T và bị cáo Lê Thị Cẩm C phải được xử lý nghiêm để giáo dục bản thân các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T và bị cáo Lê Thị Cẩm C cũng cần xem xét các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, thái độ thành khẩn và đã tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đối bị cáo Lê Thị Cẩm C phạm tội khi đang mang thai, Nguyễn Thị Ngọc T có ông ngoại Trần Xuân Vũ là liệt sĩ đây là những tình tiết để xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo C được quy định tại các điểm i, n, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát.

Vật chứng trong vụ án là: 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng; 04 bộ bài tứ sắc chưa sử dụng; 01 Cếc Cếu; 01 rỗ nhựa màu trắng tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động hiệu ViVo, đã cũ trả bị cáo Lê Thị Cẩm C ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng, đã cũ, bị trầy xướt nhiều chỗ giao trả cho Nguyễn Thị Ngọc T; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng đen, số máy E3T6E327695, số khung 1710JY223544, biển số 84B1-572.19 giao trả cho ông Nguyễn Hồng T.

Đối với số tiền Việt Nam 12.600.000 đồng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng của bị cáo T dự định dùng đánh bạc.Tịch thu nộp Ngân sách số tiền trên rỗ 40.000 đồng và tiền 120.000 đồng của bị cáo C.Trả lại cho bị cáo T số tiền 12.240.000 đồng. .

Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T và Lê Thị Cẩm C chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T và bị cáo Lê Thị Cẩm C phạm tội “Đánh bạc”;

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T 20.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, n, s khoản 1, Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Cẩm C 20.000.000 đồng.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng; 04 bộ bài tứ sắc chưa sử dụng;

+ 01 Cếc Cếu;

+ 01 rỗ nhựa màu trắng;

- Giao trả:

+ 01 điện thoại di động hiệu ViVo, đã cũ trả bị cáo Lê Thị Cẩm C;

+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng, đã cũ, bị trầy xướt nhiều chỗ giao trả cho Nguyễn Thị Ngọc T;

+ Trả lại cho bị cáo T số tiền 12.240.000 đồng

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng đen, số máy E3T6E327695, số khung 1710JY223544, biển số 84B1-572.19 giao trả cho ông Nguyễn Hồng Tẩm.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

+ Số tiền 200.000 đồng của bị cáo T dự định dùng đánh bạc.

+ Số tiền trên rỗ 40.000 đồng và tiền 120.000 đồng của bị cáo C.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T và Lê Thị Cẩm C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của đương sự.

Cỡ chữ