vanban.org

Bản án 69/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương Tuyên án 19/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ăn c điểm q khoản 2 Điều 251; điểm p, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Phạm Trung D;

ăn c điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 1; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Vũ Huy Q; ăn c điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 26/2016/UB… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Trung D (tên gọi khác Phạm Văn D) phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”; Vũ Huy Q phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm t…"
  • Tòa quyết gì? ăn c điểm q khoản 2 Điều 251; điểm p, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Phạm Trung D;
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2021/HS-ST
Ngày 19-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Quang và ông Vũ Đình Mạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị May - Thẩm tra viên, Toà án nhân dân huyện Bình Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên và bà Hoàng Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Phạm Trung D (tên gọi khác: Phạm Văn D), sinh năm 1957; Nơi sinh: thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Khu H, thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trung D1 (đã chết) và bà Phạm Thị D2 (đã chết);

Tiền sự: Không.

Tiền án:

- Bản án số 28 ngày 19/6/2008, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên xử phạt 8 năm tù về tội h a mại dâm; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 1/8/201 ;

- Bản án số 0 ngày 14/11/2017, Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 0 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 0/10/2019.

Nhân thân:

- Bản án số 22 ngày 06/8/198 , Tòa án nhân dân huyện T Lộc, tỉnh Hải Hưng xử phạt 01 năm tù về tội Trộm c p tài sản c a công dân. Hiện không c tài liệu lưu trữ;

- Bản án số 2 ngày 29/ /1987, Tòa án nhân dân huyện ẩm Bình, tỉnh Hải Hưng xử phạt 2 năm tù về tội Trộm c p tài sản c a công dân (không xác định đư c trị giá tài sản);

- Bản án số 12 ngày 1 /01/1988, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Hưng xử phạt năm tù về tội Trộm c p tài sản c a công dân (không xác định đư c trị giá tài sản). Tổng h p với 1 tháng 14 ngày tù chưa thi hành c a Bản án số 2 ngày 29/ /1987, buộc bị cáo chấp hành 4 năm tháng 14 ngày;

- Bản án số 64 ngày 18/ /1990, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Hưng xử phạt năm tù về tội Trộm c p tài sản c a công dân (không xác định đư c trị giá tài sản) và 2 năm tù về tội Trốn kh i nơi giam. Tổng h p với 2 năm tháng 27 ngày tù tại Bản án số 12 ngày 1 /01/1988, buộc bị cáo phải chấp hành 9 năm tháng 27 ngày; bị cáo chấp hành xong hình phạt c a các bản án số 2 , 12 và 64 ngày 28/02/1998;

- Bản án số 209 ngày 1 /12/1999, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 4 năm tù về tội Trộm c p tài sản c a công dân (trị giá tài sản chiếm đoạt là 60.000 đ ng); bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 22/01/200 ;

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1 2 ngày 28/9/200 , ông an huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính b ng hình th c phạt tiền về hành vi đánh bạc.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2021 đến ngày 15/7/2021 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam ông an tỉnh Hải Dương. mặt.

2. Vũ Huy Q, sinh năm 1993; Nơi sinh: thị trấn A, huyện A, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: thôn H, thị trấn A, huyện A, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Huy Q1 và bà Doãn Thị Q2; V là Nguyễn Thị Q3 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2021 đến ngày 15/7/2021 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam ông an tỉnh Hải Dương. mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Trung D: ông Phạm Văn Đ – Tr giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm tr giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hải Dương. mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1992; địa chỉ: thôn H, thị trấn A, huyện A, tỉnh Hưng Yên. mặt.

- Người chứng kiến: Anh Phạm Văn B, sinh năm 1998; địa chỉ: Khu T, thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương. V ng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m t t như sau:

Khoảng 0 giờ 0 phút ngày 12/7/2021, Phạm Trung D đi bộ từ nhà đến khu vực bờ sông thuộc khu H, thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương để tìm mua ma túy. Tại đây, D gặp và mua c a một người đàn ông không quen biết 01 g i ma túy, loại Heroine với giá 1. 0.000 đ ng. Sau khi mua đư c ma túy, D mang về nhà chia thành 22 g i nh , cất giấu vào túi quần phía trước bên trái đang mặc trên người với mục đích để bán lại cho các con nghiện kiếm lời.

Khoảng 10 giờ cùng ngày, Vũ Huy Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS BKS 89N7-03xx đi từ nhà ở thôn H, thị trấn A, huyện A, tỉnh Hưng Yên đến nhà D để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, Q gặp và mua c a D 01 g i ma túy với giá 100.000 đ ng và xin D 01 xi lanh kim tiêm, D cầm tiền cất vào túi quần phía sau bên phải, Q mở g i ma túy vừa mua c a D đổ vào xi lanh kim tiêm, v t v g i bọc giấy xuống vị trí Q đang đ ng r i cất xi lanh đựng ma túy vào túi quần phía trước bên trái đang mặc để đi tìm nơi sử dụng. Ngay lúc đ bị ơ quan ảnh sát điều tra ông an huyện Bình Giang phát hiện, b t quả tang, thu giữ trên người Q 01 xi lanh kim tiêm bên trong c ch a chất bột dạng cục màu tr ng, Q khai nhận là ma túy vừa mua c a D; 01 mảnh giấy c kích thước (2, x2, )cm dưới nền nhà tại vị trí Q đ ng; thu giữ trong túi quần phía sau bên phải D đang mặc 01 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đ ng, D khai là tiền vừa bán ma túy cho Q; thu giữ tại túi quần phía trước bên trái D đang mặc 21 g i ma túy, g m 07 g i bọc giấy kích thước (0, x01)cm và 14 g i bọc giấy tráng kim loại kích thước (0, x01)cm, bên trong ch a chất bột màu tr ng dạng cục, D khai là ma túy, cất giấu nh m mục đích bán kiếm lời; xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS BKS 89N7-03xx. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở c a Phạm Trung D, ơ quan điều tra thu giữ 74 bơm kim tiêm, 87 ống th y tinh ch a dung dịch bên ngoài ghi Novocain %, 0 mảnh giấy tráng kim loại màu tr ng kích thước (2, x 2, )cm, 01 dao lam màu tr ng, D khai nhận là đ vật để phục vụ việc bán ma túy.

Kết luận giám định số 84/KLGĐ-P 09 ngày 14/7/2021 c a Phòng kỹ thuật hình sự ông an tỉnh Hải Dương, kết luận: hất bột (dạng cục) mầu tr ng trong 07 g i bọc giấy và 14 g i bọc giấy tráng kim loại thu giữ c a Phạm Trung D gửi đến giám định tổng khối lư ng là 1,776 gam là ma túy, loại Heroine; hất bột (dạng cục) mầu tr ng trong xilanh kim tiêm thu giữ c a Vũ Huy Q gửi đến giám định khối lư ng là 0,1 9 gam là ma túy, loại Heroine. Hoàn lại mẫu vật giám định thu c a Phạm Trung D là 1,709 gam Heroine và toàn bộ v bao g i mẫu; hoàn lại mẫu vật giám định thu c a Vũ Huy Q là 0,120 gam Heroine, 01 xilanh kim tiêm.

Heroine n m trong danh mục I, STT 9, Nghị định số 7 ngày 1 / /2018 c a hính ph .

Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 21-10-2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo Phạm Trung D về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS; truy tố bị cáo Vũ Huy Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà:

- ác bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội c a mình, xác định VKSND huyện Bình Giang truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như bản áo trạng đã nêu là c căn c .

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Trung D xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo theo điểm q khoản 2 Điều 2 1 Bộ luật hình sự là c căn c ; nhất trí với quan điểm luận tội vị đại diện Viện kiểm sát trình bày tại phiên tòa; đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét đến hoàn cảnh bị cáo là người khuyết tật c kh khăn về tài chính, cho bị cáo đư c hưởng m c án khởi điểm c a khung hình phạt để bị cáo c cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo thành công dân tốt.

- Người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Nguyễn Thị L xác định chị là v c a bị cáo Vũ Huy Q, xe mô tô BKS 89N7-03xx là tài sản chung c a v ch ng chị, chị đề nghị đư c nhận lại chiếc xe trên vì đ là phương tiện đi lại duy nhất c a gia đình chị.

- Đại diện VKSND huyện Bình Giang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đ ng xét xử:

Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 2 1; điểm s, p khoản 1 Điều 1; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Phạm Trung D; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 1; Điều 8 BLHS đối với bị cáo Vũ Huy Q; áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 26/2016/UBTVQH14 ngày 0-12-2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án đối với cả hai bị cáo. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phạm Trung D phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Vũ Huy Q phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: bị cáo Phạm Trung D từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù, bị cáo Vũ Huy Q từ 13 đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về vật ch ng: trả lại bị cáo Vũ Huy Q và chị Nguyễn Thị L xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, BKS 89N7-03xx. Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 100.000đ ơ quan điều tra thu giữ c a bị cáo D. Tịch thu tiêu h y: 1,709 gam Heroine (mẫu vật hoàn lại sau giám định thu c a bị cáo D); 0,120 gam Heroine (mẫu vật hoàn lại sau giám định thu c a bị cáo Q); 07 mảnh giấy; 14 mảnh giấy tráng kim loại; 01 v phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M1 là mẫu vật hoàn lại sau giám định đư c niêm phong trong bì thư ghi số 84/KLGĐ-PC09 ký hiệu T1; 01 xilanh kim tiêm; 01 v phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M là mẫu vật hoàn lại sau giám định đư c niêm phong trong bì thư ghi số 84/KLGĐ-PC09 ký hiệu T2; 01 mảnh giấy kích thước (2,5 x 2,5)cm; 74 xilanh kim tiêm; 87 ống nước cất đều chưa qua sử dụng; 30 mảnh giấy tráng kim loại màu tr ng kích thước (2, x 2, )cm; 01 dao lam màu tr ng. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Trung D. Bị cáo Vũ Huy Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng c a ơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục theo quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. ác hành vi, quyết định tố tụng c a ơ quan, người tiến hành tố tụng là h p pháp.

Lời khai nhận tội c a các bị cáo tại phiên toà phù h p với lời khai c a các bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù h p với lời khai c a người ch ng kiến, biên bản b t người phạm tội quả tang, vật ch ng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác c trong h sơ vụ án, c đ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 1 phút ngày 12/7/2021, tại khu H, thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương, Phạm Trung D c hành vi bán trái phép 0,1 9 gam ma túy loại Heroine cho Vũ Huy Q với giá 100.000 đ ng để Q sử dụng. Ngoài ra, Phạm Trung D còn cất giấu trái phép trên người 1,776 gam ma túy loại Heroine nh m mục đích để bán cho các con nghiện kiếm lời, bị ơ quan điều tra ông an huyện Bình Giang phát hiện, b t quả tang, thu giữ vật ch ng.

[ ] ác bị cáo c đầy đ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo D nhận th c rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền c a Nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nhưng vì mục đích kiếm lời, bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên hành vi c a bị cáo đã đ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ma túy mà bị cáo mua bán là 1,9 gam Heroine, bị cáo đã tái phạm, chưa đư c x a án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên với lần phạm tội này bị cáo thuộc trường h p tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều BLHS, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo theo điểm q khoản 2 Điều 2 1 BLHS là c căn c . Bị cáo Q nhận th c rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền c a Nhà nước về quản lý chất ma túy, là một trong những nguyên nhân dẫn đến một số tội phạm khác nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên hành vi c a bị cáo đã đ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt đư c quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Ma túy mà bị cáo tàng trữ là Heroine c khối lư ng 0,1 9 gam, mục đích tàng trữ là để sử dụng nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự c a các bị cáo thấy r ng: Bị cáo D c nhân thân xấu; bị cáo Q chưa c tiền án, tiền sự. Cả hai bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên đều đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo D là người khuyết tật nặng nên đư c áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

ăn c vào quy định c a BLHS, cân nh c tính chất, m c độ nguy hiểm cho xã hội c a hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đ ng xét xử thấy cần thiết phải buộc các bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới đ tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không c nghề nghiệp, thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế kh khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Trong vụ án này còn c đối tư ng đã bán ma túy cho D, quá trình điều tra không xác định đư c là ai, ở đâu nên không c căn c xử lý.

Về xử lý vật ch ng:

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, màu sơn đ đen, BKS 89N7-03xx là tài sản chung c a bị cáo Vũ Huy Q và v là Nguyễn Thị L, đây không phải là công cụ, phương tiện bị cáo Q dùng vào việc phạm tội, bị cáo không dùng để tàng trữ ma túy nên cần trả lại cho v ch ng bị cáo.

Đối với số tiền 100.000 đ ng ơ quan điều tra thu giữ c a bị cáo D, đây là tiền bị cáo D bán ma túy mà c nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

Đối với 1,709 gam Heroine (mẫu vật hoàn lại sau giám định thu c a Phạm Trung D) và 0,120 gam Heroine (mẫu vật hoàn lại sau giám định thu c a Vũ Huy Q), là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu h y.

Đối với 07 mảnh giấy; 14 mảnh giấy tráng kim loại; 01 v phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M1 là mẫu vật hoàn lại sau giám định đư c niêm phong trong bì thư ghi số 84/KLGĐ-PC09 ký hiệu T1; 01 xilanh kim tiêm; 01 v phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M là mẫu vật hoàn lại sau giám định đư c niêm phong trong bì thư ghi số 84/KLGĐ-PC09 ký hiệu T2; 01 mảnh giấy kích thước (2,5 x 2,5)cm; 74 xilanh kim tiêm; 87 ống nước cất đều chưa qua sử dụng; 30 mảnh giấy tráng kim loại màu tr ng kích thước (2,5 x 2,5)cm; 01 dao lam màu tr ng là vật ch ng không c giá trị hoặc không sử dụng đư c nên cần tịch thu tiêu h y.

Về án phí: ác bị cáo đều bị kết án nhưng do bị cáo Phạm Trung D là người khuyết tật đ ng thời là người cao tuổi nên đư c miễn án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Vũ Huy Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

ăn c điểm q khoản 2 Điều 251; điểm p, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Phạm Trung D;

ăn c điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 1; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Vũ Huy Q;

ăn c điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 26/2016/UBTVQH14 ngày 0-12-2016 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với cả hai bị cáo.

1. Tuyên bố: bị cáo Phạm Trung D (tên gọi khác Phạm Văn D) phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Vũ Huy Q phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt:

- Bị cáo Phạm Trung D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/7/2021.

- Bị cáo Vũ Huy Q 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/7/2021.

3. Về vật chứng:

Trả lại bị cáo Vũ Huy Q và chị Nguyễn Thị L xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, màu sơn đ đen, BKS 89N7-03xx (chị Nguyễn Thị L đại diện nhận lại tài sản).

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đ ng) ơ quan điều tra thu giữ c a bị cáo Phạm Trung D.

Tịch thu tiêu h y: 1,709 gam Heroine (mẫu vật hoàn lại sau giám định thu c a Phạm Trung D); 0,120 gam Heroine (mẫu vật hoàn lại sau giám định thu c a Vũ Huy Q); 07 mảnh giấy; 14 mảnh giấy tráng kim loại; 01 v phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M1 là mẫu vật hoàn lại sau giám định đư c niêm phong trong bì thư ghi số 84/KLGĐ-PC09 ký hiệu T1; 01 xilanh kim tiêm; 01 v phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M là mẫu vật hoàn lại sau giám định đư c niêm phong trong bì thư ghi số 84/KLGĐ-PC09 ký hiệu T2; 01 mảnh giấy kích thước (2,5 x 2,5)cm; 74 xilanh kim tiêm; 87 ống nước cất đều chưa qua sử dụng; 30 mảnh giấy tráng kim loại màu tr ng kích thước (2, x 2, )cm; 01 dao lam màu tr ng.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 05/11/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang).

4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Trung D. Bị cáo Vũ Huy Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: ác bị cáo c quyền kháng cáo bản án, người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án c quyền kháng cáo phần bản án c liên quan trong hạn 1 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ