- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ND Tăng Thị H; BD Sơn D"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tăng Thị H đối với bị đơn anh Sơn D.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2021/HNGĐ-ST Ngày: 11/11/2021 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Láth
Bà Nguyễn Huỳnh Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Đô - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mỹ Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 11/11/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 59/2021/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 3 năm 2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08/7/2021; Thông báo số 105/2021TB-TA ngày 20/7/2021; Thông báo số 21/2021/TB-TA ngày 31/8/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2021/QĐST-HNGĐ ngày 14/9/2021; Thông báo dời ngày xét xử số 38/2021/TB-TA ngày 30/9/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2021/QĐST-HNGĐ ngày 20/10/2021 giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Chị Tăng Thị H, sinh năm 1989 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: khóm B, phường P, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Anh Sơn D, sinh năm 1983. (Vắng mặt)
Địa chỉ: khóm R, Phường B, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/02/2021 (BL01), cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Tăng Thị H trình bày: Chị Tăng Thị H kết hôn với anh Sơn D và được Ủy ban nhân dân phường P, thị xã VC cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/6/2011. Cuộc sống chung hạnh phúc được thời gian đầu và đã có 01 (Một) con chung là cháu Sơn Thị Phương H1 (Nữ), sinh ngày 20/9/2011. Về tài sản chung tự thỏa thuận phân chia với nhau, nợ chung không có.
Do phát sinh mâu thuẫn, sống chung không hòa hợp tính tình, thường xảy ra cãi vã nên vợ chồng đã không còn sống chung.
Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được do đó yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh D. Về con chung cháu Sơn Thị Phương H1 có nguyện vọng sống chung với cha hay với mẹ thì người đó trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung tự thỏa thuận phân chia với nhau, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh D, nhưng anh D không có văn bản gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị H, đồng thời anh D cũng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, tuy nhiên sự chấp hành pháp luật của bị đơn chưa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh D. Về con chung: Giao con chung là cháu Sơn Thị Phương H1, sinh ngày 20/9/2011 (nữ) cho chị H nuôi dưỡng đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi và cũng theo nguyện vọng của cháu H1, nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau, cháu H1 có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung tự thỏa thuận phân chia với nhau, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét; nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho anh D, nhưng anh D vẫn vắng mặt không có lý do, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt chị H và anh D.
Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Tăng Thị H nhận thấy hôn nhân của chị H và anh D là tự tìm hiểu và đến với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường P, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 06/6/2011. Quan hệ hôn nhân của chị H và anh D không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau một thời gian chung sống, đến khoảng tháng 01 năm 2021 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không còn hòa hợp với nhau thường hay xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Chị H nhận thấy cuộc sống chung không hạnh phúc, không còn tình cảm vợ chồng với anh D nên có nguyện vọng ly hôn. Hiện nay chị H và anh D đã không còn chung sống với nhau. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh D.
Về con chung: Thời gian chung sống với nhau chị H và anh D có 01 người con chung tên Sơn Thị Phương H1 (Nữ), sinh ngày 20/9/2011 có nguyện vọng sống chung với cha hay với mẹ thì người đó trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con và cũng theo nguyện vọng của cháu H1 nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau, cháu H1 có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Để đảm bảo cuộc sống của cháu H1 không bị xáo trộn, để cháu phát triển bình thường về tâm, sinh lý nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, giao cháu Sơn Thị Phương H1 (Nữ), sinh ngày 20/9/2011 cho chị H nuôi dưỡng đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi. Xét thấy, chị H hiện có việc làm, thu nhập ổn định, đảm bảo đủ điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị H khẳng định tự thỏa thuận phân chia với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Chị H khẳng định nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tăng Thị H đối với bị đơn anh Sơn D.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Tăng Thị H được ly hôn với anh Sơn D.
- Về con chung: Giao cháu Sơn Thị Phương H1 (Nữ), sinh ngày 20/9/2011 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi.
Anh Sơn D không phải cấp dưỡng nuôi con, anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Anh D không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Sơn Thị Phương H1 của chị H thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.
- Về tài sản chung: Chị H khẳng định tự thỏa thuận phân chia với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Chị H khẳng định nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2/ Về án phí sơ thẩm: Chị Tăng Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0009346, ngày 04/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị H đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí. Anh Sơn D không phải chịu án phí sơ thẩm.
3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ST (Phòng KTNV&THA); - VKSND thị xã VC; - Đương sự; - Chi cục THADS thị xã Vc; - UBND Phường VP; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Dương Chiêu Hùng |