vanban.org

Bản án 69/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng D. Chị Nguyễn Thị Hồng D được ly hôn với anh Nguyễn Văn Minh T.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 15/8/2011 và cháu Nguyễn Bảo T1, sinh ngày 25/6/2014 cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh Nguyễn Văn Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Hồng D không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẩn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng D. Chị Nguyễn Thị Hồng D được ly hôn với anh Nguyễn Văn Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 11-10-2021
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Viển.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Liệu.

2. Ông Hoàng Văn Đông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Kim Lân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2021/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2021, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 20 tháng 7 năm 2021 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa ngày 20 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Số nhà 308/B, tổ dân phố 2, ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Minh T, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Số nhà 308/B, tổ dân phố 2, ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

(Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/12/2020; biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 10/3/2021 nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hồng D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Minh T tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2010 có Đ ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Cường, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận Đ ký kết hôn vào ngày 28/3/2010. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh T không chăm lo làm ăn phát triển kinh tế gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vã, bất hòa trong cuộc sống. Chị và anh T đã không còn chung sống với nhau từ năm 2020 đến nay. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm với anh T nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Minh T.

- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn Minh T có 02 con chung tên Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 15/8/2011 và Nguyễn Bảo T1, sinh ngày 25/6/2014. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Đ và cháu T1 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Minh T: Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án số 56/2021/TB-TLVA ngày 25 tháng 01 năm 2021 cho anh T nhưng không tống đạt trực tiếp được nên Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai Thông báo về việc thụ lý vụ án theo quy định. Anh Nguyễn Văn Minh T không có ý kiến trả lời theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành niêm yết giấy triệu tập làm việc, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T không đến Tòa án làm việc, hòa giải do đó anh T không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý của đương sự, thẩm quyền thụ lý của Tòa án, thủ tục thu thập chứng cứ đúng quy định; quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ, thủ tục cấp tống đạt cho các đương sự đảm bảo theo quy định pháp luật. Các quyền nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo thực hiện. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật.

Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị D là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D.

Về con chung: Chị D và anh T có 02 con chung tên là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 15/8/2011 và Nguyễn Bảo T1, sinh ngày 25/6/2014. Hiện nay, các con chung do chị D trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; các cháu đang phát triển bình thường, khỏe mạnh, được đi học đầy đủ. Đồng thời các cháu có nguyện vọng được chung sống với chị D. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần cũng như xem xét nguyện vọng của các cháu đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Đ và cháu T1 cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị D không có yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng D chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn anh Nguyễn Văn Minh T hiện cư trú tại ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Hồng D yêu cầu khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Văn Minh T, yêu cầu được nuôi con nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về xác định tư cách đương sự: Chị Nguyễn Thị Hồng D là nguyên đơn; anh Nguyễn Văn Minh T là bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng D có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Văn Minh T đã được triệu tập hợp lệ hai lần mà vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Chị D và anh T tự nguyện Đ ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Phú Cường, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận Đ ký kết hôn vào ngày 28/3/2010 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu khởi kiện của chị D: Chị D xin ly hôn với lý do anh T không chăm lo cho làm ăn để phát triển kinh tế gia đình nên cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả, bất hòa và chị D cũng không còn tình cảm với anh T. Qua thu thập chứng cứ tại chính quyền địa phương thể hiện: Vợ chồng chị D và anh T thật sự có mâu thuẫn, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau.

Qua xem xét lời trình bày của chị D, chứng cứ Tòa án thu thập được có đủ căn cứ xác định vợ chồng chị D và anh T thật sự đã có mâu thuẫn, vợ chồng đã không còn quan tâm chăm sóc nhau, vi phạm quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, dẫn đến hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, anh T không tham gia hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, điều này thể hiện anh T không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy, cuộc sống vợ chồng giữa chị D anh T đã có mâu thuẫn, khả năng đoàn tụ không có nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D, giải quyết cho chị D được ly hôn với anh T theo Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị D và anh T có 02 con chung tên Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 15/8/2011 và Nguyễn Bảo T1, sinh ngày 25/6/2014. Qua thu thập chứng cứ tại chính quyền địa phương thể hiện cháu Đ và cháu T1 đang do chị D nuôi dưỡng, các cháu phát triển bình thường, chị D có thu nhập ổn định, có đạo đức tốt. Mặc khác cháu Đ và cháu T1 đều có nguyện vọng được sống cùng với chị D. Xét thấy việc giao cháu Đ và cháu T1 cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng là đảm bảo được việc phát triển bình thường của các con chung cũng như phù hợp với nguyện vọng của các cháu là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D không có yêu cầu.

Anh T có quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị D chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, 10, 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1) Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng D. Chị Nguyễn Thị Hồng D được ly hôn với anh Nguyễn Văn Minh T.

2) Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 15/8/2011 và cháu Nguyễn Bảo T1, sinh ngày 25/6/2014 cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh Nguyễn Văn Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Hồng D không yêu cầu.

Anh T có quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3) Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.

4) Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị D đã nộp theo biên lai số 0005688 ngày 25/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ. Chị D đã nộp đủ án phí.

5) Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Hồng D và anh Nguyễn Văn Minh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ