- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2020/HS-ST Ngày 15 - 9 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Đ, TỈNH QUẢNG NINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thị Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Xuân Sớm
2. Ông Nguyễn Đình Thắng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Hà Anh Bắc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 9 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2020/TLST - HS ngày 07 tháng 8 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2020/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Ngô Văn T, sinh ngày 19/4/1999 tại thị xã K, tỉnh Hải Dương.
Nơi cư trú: Thôn K, xã B, thị xã K, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không.
Bị bắt tạm giữ ngày 20 tháng 6 năm 2020; Bị tạm giam từ ngày 29 tháng 6 năm 2020 (hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ). Có mặt.
- Người chứng kiến:
1/ Ông Hoàng Đình P; sinh năm 1963; Nơi cư trú: Thôn T, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
2/ Ông Vũ Đình T; sinh năm 1954; Nơi cư trú: Thôn T, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20 tháng 6 năm 2020, tại khu vực cổng chợ B thuộc thôn T, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Công an xã B phối hợp với Công an thị xã Đ tiến hành kiểm tra hành chính đối với Ngô Văn T. Do T không xuất trình được giấy tờ tùy thân nên tổ công tác đã yêu cầu T về trụ sở Công an xã B để làm việc. Quá trình đưa T về đến cổng trụ sở Ủy ban nhân dân xã B thì phát hiện thu giữ 01( một) túi nilon màu trắng kích thước (3x2,5)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng rơi ra từ trên người của T xuống nền đường. Ngoài ra thu giữ của T 01 ( một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung gắn sim số 0962.112.675.
Tại Bản kết luận giám định số 793/KLGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật thu giữ của Ngô Văn T gửi giám định là ma túy; Loại: Methamphetamine; Khối lượng: 0,447gam (Không phẩy bốn bốn bảy gam).
Bản cáo trạng số 68/CT - VKS - ĐT ngày 06 tháng 8 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm: Vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 20 tháng 6 năm 2020). Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu và tiêu hủy một phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định. Trả lại cho bị cáo 01 ( một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đánh giá về hành vi của bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ đã truy tố:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn T đều khai nhận:
Vào khoảng 09 giờ ngày 20/6/2020, bị cáo kết bạn với một người phụ nữ ( không rõ lai lịch) có tài khoản Zalo là “ Cún”; Quá trình nói chuyện “ Cún” rủ bị cáo mua ma túy đá mang sang khu vực xã B, thị xã Đ để cùng sử dụng. Bị cáo đồng ý, sau đó bị cáo đi xe mô tô đến nhà anh Lê Xuân Q, sinh năm 1991, trú tại khu P, phường T, thị xã K, tỉnh Hải Dương để nhờ anh Q dẫn đi cầm cố chiếc xe mô tô của bị cáo cho một người không rõ lai lịch lấy 1.000.000đ (một triệu đồng) rồi sau đó tiếp tục quay lại nhà anh Q. Tại đây, bị cáo đưa cho anh Q 400.000đ ( bốn trăm nghìn đồng) nhờ đi mua hộ ma túy dạng đá. Anh Q đồng ý rồi lấy xe mô tô đi mua ma túy của một người tên là T ( không rõ lai lịch), khoảng 10 phút sau thì quay lại đưa cho bị cáo 01 ( một) túi nilon chứa ma túy dạng đá. Bị cáo đã chụp ảnh và gửi zalo hình ảnh túi ma túy cho “ Cún” thì được “ Cún” hẹn đón ở khu vực chợ xã B, thị xã Đ nên bị cáo đã cất giấu túi ma túy vào trong cạp quần soóc đang mặc ( để ở khu vực dưới rốn) và đón xe ôm đến nơi hẹn gặp “ Cún” để cùng nhau sử dụng ma túy. Trong khi bị cáo đang chờ “ Cún” đến đón thì bị Công an kiểm tra hành chính và mời về trụ sở làm việc. Khi đi đến cổng trụ sở Ủy ban nhân dân xã B thì túi ma túy mà bị cáo cất giấu trong cạp quần bị rơi xuống đất và bị Công an phát hiện thu giữ.
Các ông Hoàng Đình P, Vũ Đình T đều có lời khai thể hiện: Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 20/6/2020, các ông được lực lượng Công an mời đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã B chứng kiến việc Công an lập biên bản kiểm tra hành chính một nam thanh niên khai tên là Ngô Văn T, sinh năm 1999, nơi cư trú: thôn K, xã B, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Công an đã phát hiện thu giữ trên nền đất trước cổng trụ sở Ủy ban nhân dân xã B, thị xã Đ 01( một) túi nilon, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Người thanh niên tên T khai nhận túi nilon màu trắng chứa ma túy bên trong là của T, T cất giấu trong cạp quần phía trước bụng bị rơi ra, T cất giấu túi ma túy trên với mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau đó lực lượng Công an đã lập biên bản và niêm phong vật chứng, đưa Ngô Văn T về trụ sở Công an xã B để làm việc.
Xét thấy: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với Biên bản kiểm tra hành chính do Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh lập hồi 13 giờ 50 phút ngày 20 tháng 6 năm 2020; Phù hợp với: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường; Bản ảnh hiện trường; Bản ảnh kiểm tra điện thoại của Ngô Văn T; Lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản kết luận giám định số 793/KLGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật thu giữ của Ngô Văn T gửi giám định là ma túy; Loại: Methamphetamine; Khối lượng: 0,447gam (Không phẩy bốn bốn bảy gam).
(Methamphetamine nằm trong Danh mục IIC, STT: 323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20 tháng 6 năm 2020, tại khu vực trước cổng trụ sở Ủy ban nhân dân xã B, thuộc thôn T, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Ngô Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,447gam (Không phẩy bốn bốn bảy gam) chất ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Bản cáo trạng số 68/CT - VKS - ĐT ngày 06 tháng 8 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh và lời buộc tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và luận tội tại phiên tòa là có đủ cơ sở, cần được chấp nhận.
Hành vi của bị cáo Ngô Văn T là nguy hiểm, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý và các chất gây nghiện, làm mất trật tự, an toàn xã hội. Chất ma tuý gây nguy hại đến sức khoẻ con người, ma túy cũng là mầm mống phát sinh các loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, tạo nên nhiều bức xúc trong quần chúng nhân dân. Trong những năm qua Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị, xã hội đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm đấu tranh, ngăn chặn đối với các tội phạm về ma tuý; nhiều cuộc vận động, tuyên truyền về tác hại của ma tuý đã được tổ chức; rất nhiều tội phạm về ma tuý đã bị pháp luật trừng trị, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, do vậy cần phải bị xử lý thật nghiêm trước pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý trong giai đoạn hiện nay.
Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 ( một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Ngô Văn T, quá trình điều tra xác định T không sử dụng điện thoại trên vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Một phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, xét thấy là vật có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với người phụ nữ có tên tài khoản Zalo là “ Cún” là người đã rủ T sử dụng ma túy cùng và người đàn ông tên T đã bán ma túy cho Q theo lời khai của T, quá trình điều tra không xác định được địa chỉ, lai lịch cụ thể nên không đủ căn cứ làm rõ, xử lý.
Theo lời khai của Ngô Văn T, đối tượng Lê Xuân Q là người đã dẫn T đi cầm cố xe mô tô và mua ma túy cho T, quá trình điều tra Q vắng mặt tại địa phương nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo Ngô Văn T là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
1. Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (Ngày 20 tháng 6 năm 2020).
2. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy một phong bì niêm phong số 793/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh (bên trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định).
Trả lại cho bị cáo Ngô Văn T 01 ( một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 77 ngày 07 tháng 8 năm 2020 giữa Công an thị xã Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đ).
3.Về án phí: Bị cáo Ngô Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Viện KSND thị xã Đ; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ; - Cơ quan THAHS Công an thị xã Đ; - Chi cục THADS thị xã Đ; - Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ; - Lưu H.sơ, V.phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ( đã ký) Tô Thị Thịnh |