- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị h nội xin ly hôn anh y đik"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H’N xin ly hôn anh Y Đ.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2020/HNGĐ - ST Ngày 17/7/2020 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Đức Lý
2. Ông Nguyễn Hưng.
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Bích Dịu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo, Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 7 năm 2020, tại Hội trường xét xử trụ sở Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 16/2020/TLST-HNGĐ ngày 07/01/2020, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2020/QĐXX-HNGĐ ngày 12/6/2020 và Quyết định hoãn phiên toà số: 55/2020/QĐST-HNGĐ ngày 29/6/2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị H’N, sinh năm 1990; Địa chỉ: Buôn P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
Bị đơn: Anh Y Đ, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn 7, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn chị H’N trình bày có nội dung như sau: Chị H’N và anh Y Đ là vợ chồng lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B ngày 26/5/2008. Sống chung hạnh phúc một thời gian thì đến năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, anh Y Đ thiếu quan tâm, chăm sóc gia đình, hay nhậu nhẹt, không tu chí làm ăn, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, chị H’N và anh Y Đ đã ly thân từ tháng 01 năm 2019 cho đến nay, mặc dù đã cố gắng duy trì cuộc sống hôn nhân nhưng đến nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng nên chị H’N có nguyện vọng xin được ly hôn với anh Y Đ.
Về con chung: Chị H’N và anh Y Đ có 01 con chung là cháu Y T, sinh ngày 03/01/2008. Chị H’N có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Y T đến tuổi thành niên và không yêu cầu anh Y Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị H’N có nghề nghiệp là làm lễ tân tân khách sạn, có thu nhập ổn định, đủ điều kiện để nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Y Đ: Trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không tham gia tố tụng nên Tòa án không tiến hành ghi lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải được.
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.
Đại diện Vện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tại phiên tòa HĐXX cũng như nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 220, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H’N xin ly hôn anh Y Đ.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H’N được ly hôn anh Y Đ.
Về con chung: Giao con chung là cháu Y T, sinh ngày 03/01/2008 cho chị H’N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên.
Anh Y Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình, bị đơn anh Y Đ có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Y Đ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh Y Đ.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H’N và anh Y Đ lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B ngày 26/5/2008, là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình duy trì quan hệ hôn nhân, vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn và trở nên trầm trọng từ đầu năm 2018 đến nay, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, anh Y Đ thiếu quan tâm, chăm sóc gia đình, hay nhậu nhẹt, không tu chí làm ăn, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, chị H’N và anh Y Đ đã ly thân từ tháng 01 năm 2019 cho đến nay, mặc dù đã cố gắng duy trì cuộc sống hôn nhân nhưng đến nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không cỏn khả năng hàn gắn nên chị H’N có nguyện vọng xin được ly hôn với anh Y Đ.
Tại biên bản xác minh của Tòa án chính quyền địa phương cho biết chị H’N và anh Y Đ có mâu thuẫn trong cuộc sống, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Y Đ không tu chí làm ăn, mâu thuẫn không khắc phục được nên chị H’Nội Niê và anh Y Đ đã sống ly thân.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Y Đ vắng mặt không tham gia tố tụng, không có thiện chí hàn gắn để mặc cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.
Xét mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa chị H’N và anh Y Đ đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân thì không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H’N là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Hiện nay chị H’N đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung, Chị H’N có công việc, có thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng con chung, con chung cũng có nguyện vọng được ở với chị H’N nên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung và để ổn định cuộc sống của con chung cần giao con chung là cháu Y T cho chị H’N tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.
Anh Y Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị H’N không yêu cầu anh Y Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H’N không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị H’N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 220, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H’N xin ly hôn anh Y Đ.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H’N được ly hôn anh Y Đ.
Về con chung: Giao con chung là Y T, sinh ngày 03/01/2008 cho chị H’N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ tuổi thành niên.
Anh Y Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị H’N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số AA/2019/0005623 ngày 30/12/2019.
Nguyên đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niếm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thị hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TA tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND TP. BMT; - CCTHADS TP. B; - UBND phường T, TP. B; - Các đương sự; - Lưu: HS +VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Đình Thanh |