- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Ngọc A - Trần B"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Bà Lê Thị Ngọc A - sinh năm 1986 được ly hôn với ông Trần B - sinh năm 1981.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NC DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2020/HNGĐ -ST Ngày 16 tháng 01 năm 2020 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NC DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NC DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thiện Liên Hương
Các Hội thẩm nC dân:
1. Bà Bùi Thị Cẩm Vân
2. Ông Trần Văn Phủ
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Trường, là Thư ký Tòa án nC dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nC dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 16 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nC dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hôn nC và gia đình thụ lý số 1450/2019/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2019 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 626/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc A
Sinh năm: 1986
Địa chỉ thường trú: 91 đường X, Phường Y, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Trần B
Sinh năm: 1981
Địa chỉ thường trú: 91 đường X, Phường Y, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và các biên bản tại Tòa án, nguyên đơn là bà Lê Thị Ngọc A trình bày:
Bà Lê Thị Ngọc A và ông Trần B đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân phường Y, quận K, thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận kết hôn số 58, quyển số 01/2009 ngày 27/4/2009). Hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện.
Thời gian đầu bà A và ông B chung sống bình thường, nhưng bắt đầu từ năm 2012 thì do luôn bất đồng quan điểm, lối sống, tính tình đôi bên không phù hợp nên giữa chúng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Bà A và ông B đã nhiều lần tự hòa giải hàn gắn với nhau những vẫn không có kết quả. Đến nay thì mâu thuẫn giữa đôi bên đã đến mức trầm trọng, không thể nào giải quyết được, tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được, bà A và ông B không thể nào tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Bà A và ông B đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay vì vậy bà A yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà A ly hôn ông Trần B để các bên có thể sớm ổn định cuộc sống của mình.
Về con chung: Có 02 con chung là Trần Ngọc Gia C - sinh ngày 14/6/2012 và Trần Lê Gia D - sinh ngày 19/01/2014. Bà A yêu cầu giao trẻ C cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi trẻ C; giao trẻ D cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, bà A không cấp dưỡng nuôi trẻ D.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Bà A tự nguyện nộp toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
Bị đơn - ông Trần B vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án. Tại đơn xin trình bày ý kiến về nội dung vụ kiện ly hôn giữa bà Lê Thị Ngọc A và ông Trần B ngày 19/11/2019 và đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ngày 19/11/2019 đã được Văn phòng công chứng Nguyễn Minh Tấn, thành phố Hồ Chí Minh chứng thực ngày 19/11/2019, ông B đã trình bày như sau:
Ông Trần B và bà Lê Thị Ngọc A đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nC dân phường 26, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, hai bên tự nguyện đến với nhau. Sau khi kết hôn thì ông B và bà A chung sống với nhau tại nhà số 91 (nay là 65) đường X, Phường Y, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xuất phát từ tính tình không hợp, quan điểm sống trái ngược nhau nên giữa ông B và bà A đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Đôi bên đã ly thân hơn 03 năm nay. Nhận thấy giữa các bên không còn tình cảm, hôn nC không hạnh Dc, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông B đồng ý ly hôn với bà Lê Thị Ngọc A. Ông B đề nghị Tòa án giải quyết cho ông B và bà A được ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung là Trần Ngọc Gia C - sinh ngày 14/6/2012 và Trần Lê Gia D - sinh ngày 19/01/2014. Ông B yêu cầu giao trẻ C cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và không yêu cầu bà A cấp dưỡng nuôi trẻ D; giao trẻ D cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, ông B không cấp dưỡng nuôi trẻ C.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nợ chung.
Ông B đề nghị được giải quyết theo thủ tục vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án giữa ông B và bà A vì lý do bận công việc, thường xuyên đi công tác.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Lê Thị Ngọc A và bị đơn là ông Trần B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bà A và ông B vẫn giữ các nguyên ý kiến và yêu cầu như trên.
Tại phần tranh luận, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến tranh luận.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
* Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể: Thẩm phán xác định, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
* Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí, nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh ly hôn. Bị đơn có địa chỉ tại quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nC dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn là bà Lê Thị Ngọc A và bị đơn là ông Trần B có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về yêu cầu của đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 58, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân phường Y, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Lê Thị Ngọc A và ông Trần B ngày 27 tháng 4 năm 2009 cùng lời trình bày của các bên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà bà Lê Thị Ngọc A và ông Trần B là hôn nhân hợp pháp.
Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đều thể hiện cả bà A và ông B đều mong muốn Tòa giải quyết cho đôi bên ly hôn vì đôi bên cho rằng giữa tính tình của đôi bên không hợp nhau, quan điểm sống trái ngược nhau nên đã giữa đôi bên đã xảy ra nhiều mâu thuẫn và đến nay những mâu thuẫn này đã trở nên trầm trọng, không thể hòa giải hàn gắn được nữa. Đôi bên đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Do ông B có đơn đề nghị giải quyết theo thủ tục vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án nên Tòa án không thể tiến hành thủ tục hòa giải ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành cho các bên đương sự theo quy định của pháp luật được.
Xét thấy, một gia đình hạnh phúc, bền vững phải được xây dựng từ thiện chí và tình cảm tự nguyện của vợ và chồng, nhưng đối với hôn nhân của bà A và ông B, cả hai thể hiện sự không mong muốn tiếp tục duy trì hôn nhân, hôn nhân này không đạt được mục đích nên yêu cầu ly hôn của bà A đối với ông B là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Bà A và ông B đều xác nhận có 02 con chung là Trần Ngọc Gia C - sinh ngày 14/6/2012 và Trần Lê Gia D - sinh ngày 19/01/2014. Bà A và ông B đều yêu cầu giao trẻ C cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và giao trẻ D cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà A, ông B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, yêu cầu của các đương sự về con chung là tự nguyện, đúng pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của con chung nên có cơ sở để công nhận.
- Về tài sản chung: bà A và ông B không yêu cầu giải quyết vấn đề tài sản chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản chung.
- Về nợ chung: bà A và ông B xác nhận không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết.
Về án phí:
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nguyên đơn phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nC và gia đình;
Căn cứ vào Luật phí và lệ phí;
Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ vợ chồng: Bà Lê Thị Ngọc A - sinh năm 1986 được ly hôn với ông Trần B - sinh năm 1981.
2. Về con chung: Có 02 con chung là Trần Ngọc Gia C - sinh ngày 14/6/2012 và Trần Lê Gia D - sinh ngày 19/01/2014. Giao trẻ C cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và giao trẻ D cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà A và ông B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Bà A, ông B được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con khi có lý do chính đáng một hoặc cả hai bên được quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết.
5. Về án phí: Bà Lê Thị Ngọc A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0021511 ngày 06/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh; bà A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
6. Án xử công khai. Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.Hồ Chí Minh; - VKSND quận K; - Chi Cục THADS quận K; - UBND Phường Y, quận K; - Các đương sự; - Lưu VP; Hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thiện Liên Hương |