vanban.org

Bản án 69/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 07/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2018. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,364 gam Methamphetamine sau giám định được niêm phong tại phong bì và có đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Hiện tang vật đang lưu giữ tại Chi cục Thi …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69 /2019/HSST
Ngày: 07 / 3/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T- TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa:

Bà Lê Thị Hoa

Các hội thẩm nhân dân:

1 Ông Lê Cát Tưởng

2. Bà Nguyễn Thị Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thành phố T, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Lê Hữu Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 74/2019/HSST ngày 24/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2019/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh Tùng- Sinh năm 1986; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Cốc Hạ 2, phường Đông Hương, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; văn hóa 12/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Văn T ( đã chết) và bà: Nguyễn Thị M – sinh năm 1954; vợ: Nguyễn Ngọc N – sinh năm 1989; có 02 con lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 15/12/2018, tạm giam ngày 21/12/2018. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13h45 phút ngày 15/12/2018 trong khi làm nhiệm vụ tại khu vực ngã 3 thôn B, đường H, phường Đ, thành phố T phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi quần bên trái Tùng đang mặc 01 gói nilon màu trắng có viền xanh kích thước khoảng 2x3cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng T khai là ma túy đá, mục đích mua về để sử dụng. Tổ công tác đã đưa Nguyễn Thanh T về trụ sở Công an phường lập biên bản phạm tội quả tang và niêm phong số ma túy trên theo quy định của Pháp luật.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh T khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 13h30 phút ngày 15/12/2018 T một mình đi đến nhà người đàn ông tên là H ở ngõ 311 phường Đ, thành phố Thanh H để mua ma túy sử dụng. Tại đây H đã bán cho T một gói ma túy với giá 350.000đ, sau khi mua được ma túy T bỏ vào túi quần bên trái đang mặc mục đích đem về nhà sử dụng khi T đi đến đầu ngõ 311 H, phường Đ, thành phố T thì bị tổ công tác Công an phường Đ, thành phố T phát hiện, Tùng đã tự nguyện giao nộp gói ma túy cho tổ công tác.

Theo kết luận giám định số 191/MT – PC 09 ngày 18/12/2018 của phòng kỹ thuật Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận : các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,406 gam loại Methamphetamine.

Đối với Nguyễn Văn H sinh năm 1985, trú tại số nhà 04/311 H phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, theo T khai là người bán gói ma túy cho T. Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã đấu tranh làm rõ nhưng H không thừa nhận việc T khai mua ma túy của H và không có ai thấy ai biết nên không đủ cơ sở để xử lý đối với Nguyễn Văn H.

Cáo trạng số 70/CT-VKSTP ngày 23/01/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố Nguyễn Thanh T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thành phố T luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38, Điểm a khoản 2 Điều 106 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù, tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

.Do nghiện ma túy, khoảng 13h30 ngày 15/12/2018 T đi một mình đến nhà người đàn ông tên là H ở ngõ 311 H phường Đ, thành phố T để mua ma túy sử dụng. Tại đây H đã bán cho Tùng một gói ma túy với giá 350.000đ, sau khi mua được ma túy T bỏ vào túi quần bên trái đang mặc mục đích đem về nhà sử dụng khi T đi đến đầu ngõ 311 H, phường Đ, thành phố T thì bị tổ công tác Công an phường Đ, thành phố T phát hiện,Tùng đã tự nguyện giao nộp gói ma túy cho tổ công tác.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội đã đánh giá đúng tính chất hành vi nguy hiểm của tội phạm, đồng thời vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thanh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Tội danh và khung hình phạt áp dụng xét xử đối với bị cáo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

. Tội phạm về ma túy là những tội phạm nguy hiểm, nó đang trở thành hiểm họa lớn cho toàn xã hội, ma túy không những gây ảnh hưởng đến sức khỏe, phẩm giá của con người, làm suy thoái nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Trong vụ án này bị cáo đã bất chấp dư luận xã hội, bất chấp quy định của Pháp luật, ngang nhiên mua ma túy để sử dụng, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân, tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.

Nhân thân bị cáo là người có nhận thức, chưa có tiền án, tiền sự, sống thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội sớm lao vào con đường phạm tội, phạm loại tội nghiêm trọng. Vì lẽ đó cần phải cách ly khỏi xã hội để bị cáo có thời gian cải tạo, sửa chữa sai phạm, tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo và đã có thời gian phục vụ trong quân đội nhân dân Việt Nam qui định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Pháp luật.

Trong vụ án này bị cáo mua Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng, do đó không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Số ma túy thu được của bị cáo sau giám định 0,364 gam Methamphetamine là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần áp dụng khoản 1 điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốchội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòaán.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2018.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,364 gam Methamphetamine sau giám định được niêm phong tại phong bì và có đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Hiện tang vật đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 84 THA ngày 28/01/2019.

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7,9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ