vanban.org

Bản án 69/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 03/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tịch thu tiêu hủy 0,272 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đƣợc đựng trong phong bì số 98/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H D (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố H D và Chi cục Thi hành án dân sự t…

VKSND thành phố H D; VKSND tỉnh H D; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tịch thu tiêu hủy 0,272 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đƣợc đựng trong phong bì số 98/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H D (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố H D và Chi cục Thi hành án dân sự t…
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2019/HS-ST
Ngày: 03/5/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG -TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Khuôn, ông Lê Văn C.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Bốn - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố H D, tỉnh H D.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H D, tỉnh H D tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhiệm - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố H D, tỉnh H D mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2019/HSST ngày 05/4/2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 63/2019/HSST-QĐ ngày 22/4/2019, đối với bị cáo:

Phạm Thị T, sinh năm 1980; ĐKHKTT: L V, thành phố T Q, tỉnh T Q; Chỗ ở: Số 6/20 N T M, phƣờng B H, thành phố H D, tỉnh H D; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn M, con bà Nguyễn Thị T L(Nguyễn Thị L); Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ 5; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/01/2019, chuyển tạm giam từ ngày 28/01/2019 đến nay tại Trại tạm giam K C, Công an tỉnh H D. Có mặt tại phiên tòa.

- Ngƣời làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1952; Chỗ ở hiện nay: Khu 6 phƣờng B H, thành phố H D, tỉnh H D.

+ Ông Nghiêm Viết C, sinh năm 1951; Chỗ ở hiện nay: Số 11/20 N T M, phƣờng B H, thành phố H D, tỉnh H D.

Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Phạm Thị T có sử dụng chất ma túy tổng hợp. Ngày 24/01/2019, T đến thành phố Hải Phòng gặp bạn tên S (không rõ họ, địa chỉ) đƣợc S cho 01 gói ma túy tổng hợp. T giấu trong ngƣời để khi cần lấy ra sử dụng. Khoảng 9 giờ, ngày 25/01/2019, khi T đang ở phòng trọ số 6/20 N T M, phƣờng B H, thành phố H D, tỉnh H D thì bị Công an phƣờng B H, thành phố H D đến kiểm tra. T tự giác giao nộp 01 gói nilon chứa chất tinh thể màu trắng T tự khai là ma túy trƣớc sự chứng kiến của ông Nghiêm Viết C và ông Nguyễn Văn T. Tại Kết luận giám định số 98/KLGĐ-PC09 ngày 27/01/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H D kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng niêm phong trong bì thƣ ghi thu của Phạm Thị T, gửi đến giám định có khối lƣợng là 0,312 gam là loại Methamphetamine. (Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ). Về vật chứng: Đối với 0,272 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đƣợc đựng trong phong bì số 98/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H D hiện đang đƣợc quản lý tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố H D. Tại Cáo trạng số 65/CT-VKSTPHD, ngày 03/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H D truy tố bị cáo Phạm Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H D thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm nhƣ đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 25/01/2019; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,272 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đƣợc đựng trong phong bì số 98/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H D. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau: [1]Lời khai của bị cáo Phạm Thị T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai ngƣời làm chứng, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09giờ ngày 25/01/2019, tại phòng trọ số 6/20 N T M, phƣờng B H, thành phố H D, tỉnh H D, Phạm Thị T có hành vi đang cất giấu trái phép 0,312 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị Công an phƣờng B H, thành phố H D bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nƣớc cấm sản xuất, quản lý và sử dụng nhƣng vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện, ý thức coi thƣờng pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Việc bị cáo cất giấu trái phép 0,312 gam Methamphetamine để sử dụng là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H D truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nƣớc, xâm phạm trật tự an toàn xã hội đƣợc pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tƣơng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng, chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên đƣợc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

- Đối với 0,272 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đƣợc đựng trong phong bì số 98/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H D là chất cấm lƣu hành nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo bị kết án có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về vấn đề khác: Đối với đối tƣợng tên S bị cáo khai là ngƣời cho bị cáo ma túy do không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ, không làm rõ đƣợc nên không có căn cứ xử lý.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí sô 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thị T 15 (mƣời lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 25/01/2019. 3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 0,272 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đƣợc đựng trong phong bì số 98/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H D (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố H D và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H D ngày 08/4/2019). 4. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Thị T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 03/5/2019)./.

Cỡ chữ