vanban.org

Bản án 69/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 26/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chu Văn H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án. Về phần dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa gia đình bị cáo Chu Văn H và gia đình bị hại Tô Văn L: Cụ thể gia đình bị cáo Chu Văn H bồi thường thiệt hại tính mạng, tổn thất tinh thần tổng cộng các khoản … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Chu Văn H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2019/HS-ST
Ngày 26-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thành

Bà Lương Bích Diệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Huyền - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lê Chí Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Chu Văn H; sinh ngày: 01/7/1995 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn O, xã V, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: Lớp 12/12 (giáo dục phổ thông); con ông Chu Văn S và bà Lường Thị H; vợ, con: Chưa có; Nhân thân: không bị xử phạt hành chính, không bị kỷ luật; tiền án, tiền sự: Không, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

- Bị hại: Anh Tô Văn L, sinh năm 1984, trú tại: Thôn K, xã B, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (đã chết). Người đại diện hợp pháp của anh Tô Văn L: Ông Tô Ngọc X, sinh năm 1944 và chị Trần Thị H, sinh năm 1990. Người đại diện theo ủy quyền của ông Tô Ngọc X và chị Trần Thị H: Chị Tô Thị C, sinh năm 1991, trú tại thôn K, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, có mặt;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Chị Chu Thị H, sinh năm: 1992; trú tại: Thôn O, xã V, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Người đại diện theo ủy quyền của chị Chu Thị H: Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1988, cư trú tại: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn (văn bản ủy quyền ngày 25/11/2019), có mặt.

2. Chị Trần Thị H, sinh năm 1990, trú tại: Thôn O, xã V, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Người đại diện theo ủy quyền của chị Trần Thị H: Chị Tô Thị C, sinh năm 1991, trú tại thôn K, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, có mặt

Người làm chứng: Anh Tô Văn T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 29/08/2019 Chu Văn H - sinh năm 1995, trú tại thôn O, xã V, huyện L, tỉnh Lạng Sơn uống bia và hộ đám tang ở thôn O, xã V, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Sau đó Chu Văn H điều khiển xe mô tô BKS: 12L1 - 079.87 di chuyển trên đường QL4B theo hướng thành phố L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày khi đi đến đoạn đường thẳng tại Km 14, QL4B thuộc thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Chu Văn H điều khiển xe mô tô với tốc độ khoảng 70km/h (theo lời khai của H), phía trước xe mô tô của Chu Văn H khoảng 100 mét có một xe mô tô BKS: 12F6 - 7580 do Tô Văn L - sinh năm 1984, trú tại Thôn K, xã B, huyện L, tỉnh Lạng Sơn điều khiển chở Tô Văn T - sinh năm 1980 sống cùng thôn, đang đi cùng chiều với xe Chu Văn H nhưng đang đi ở phần đường bên trái hướng thành phố L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn. Khi đó Tô Văn L điều khiển xe mô tô và có đèn tín hiệu rẽ phải từ bên trái đường theo hướng thành phố L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn và đi chếch về phía bên phải phần đường thành phố L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn để rẽ vào đường nhánh đi hướng Ủy ban nhân dân xã K. Khi Tô Văn L điều khiển xe đi được khoảng 15 mét thuộc phần đường bên phải hướng thành phố L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn thì Chu Văn H điều khiển xe mô tô BKS: 12L1 - 079.87 đi cùng chiều đã gây ra tai nạn giao thông với xe mô tô do Tô Văn L điều khiển. Hậu quả: Tô Văn L tử vong, Chu Văn H bị chấn thương ở gối phải, bàn chân phải có nhiều vết thương xây sước da, cẳng tay trái có vết thương chày sước da, gãy xương sườn số 8 bên phải; hai xe mô tô hư hỏng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 25/GĐPY - PC09, ngày 16/09/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận nguyên nhân chết của Tô Văn L là do: Chấn thương sọ não, vỡ xương chẩm, xương nền sọ phức tạp, diện rộng; chảy máu, tụ máu não, tổ chức não phù nề, xung huyết làm suy hô hấp cấp, suy tuần hoàn cấp không phục hồi dẫn đến tử vong.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 29/8/2019 cho thấy hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ được mô tả theo chiều hướng thành phố L, huyện Đ. Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, phẳng, mặt đường rải bê tông nhựa phẳng. Cách 100m tính từ mép đường giao nhau với đường nhánh đi UBND xã K hướng đi thành phố L có biển báo “Giao nhau với đường không ưu tiên” Biển số 207b (QCVN41:2001/BGTVT) trên lề đường phải. Vị trí va chạm của vụ tai nạn giao thông ở phần đường bên phải theo hướng thành phố L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn.

Tại biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 30/8/2019 cho thấy: Xe mô tô BKS: 12L1 - 079.87, nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn đen xám, bị hư hỏng nặng. Các dấu vết va chạm tập trung ở phần bên trái xe mô tô và các dấu vết cày trượt tập trung ở phần bên phải xe mô tô (Được thể hiện trong biên bản khám nghiệm phương tiện); xe mô tô BKS: 12F6 - 7580, nhãn hiệu LANDA, màu sơn Nâu, bị hư hỏng nặng. Các dấu vết va chạm tập trung ở phần bên phải xe mô tô.

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn của Chu Văn H ngày 29/08/2019 có kết quả là 0,397 mg/l. Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn của Tô Văn L ngày 29/08/2019 có kết quả là 0,496 mg/l

Tại bản Kết luận giám định kỹ thuật số 108/GĐKT - ĐK ngày 31/10/2019 của Công ty C Lạng Sơn đối với xe mô tô 12F6 - 7580 và xe mô tô 12L1 - 079.87 đã kết luận: Xe mô tô BKS: 12L1 - 079.87: Qua kiểm tra các dấu vết hư hỏng, xem xét và phân tích hiện trạng kỹ thuật của phương tiện, kết luận xe mô tô biển số 12L1 - 079.87 khi xảy ra tai nạn các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật; xe mô tô BKS: 12F6 - 7580: Căn cứ vào các dấu vết, hư hỏng và hiện trạng kỹ thuật phương tiện, kết luận khi xảy ra tai nạn, các hệ thống an toàn của xe mô tô biển số 12F6 - 7580 như sau: Hệ thống lái và hệ thống phanh: Đầy đủ cơ cấu, hoạt động bình thường, đảm bảo an toàn kỹ thuật; hệ thống đèn chiếu sáng phía trước, các đèn tín hiệu, còi bị hư hỏng nên không đủ cơ sở để kết luận, không có gương quan sát phía sau theo quy định.

Tại Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS ngày 22/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn kết luận: Giá trị tài sản thiệt hại của xe mô tô BKS: 12L1 - 079.87 là 1.330.000đồng (Một triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng); Giá trị tài sản thiệt hại của xe mô tô BKS: 12F6 - 7580 là 370.000đồng (Ba trăm bẩy mươi nghìn đồng).

Vật chứng của vụ án: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 12L1 - 079.87, nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn đen xám, số máy: JC52E1383417, số khung: RLHJC5264DY134060, chủ sở hữu là Chu Thị H; 01 (một) Xe mô tô biển kiểm soát: 12F6 - 7580, nhãn hiệu LANDA, màu sơn nâu, số máy: VHAZS150FMG266662480, số khung: VTMPCG005T003764, chủ sở hữu là Trần Thị H. Ngày 31/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản là xe mô tô BKS: 12L1 - 079.87 cho chủ sở hữu là chị Chu Thị H và trả lại tài sản là xe mô tô BKS: 12F6 - 7580 cho chủ sở hữu là chị Trần Thị H.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn Chu Văn H và gia đình đã bồi thường cho gia đình Tô Văn L với tổng số tiền là 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng). Hai bên gia đình nhất trí thỏa thuận bồi thường xong và cam kết sẽ không khiếu kiện, không đề nghị yêu cầu gì thêm, gia đình bị hại Tô Văn L có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Chu Văn H.

Tại cơ quan điều tra bị can Chu Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Tại Bản cáo trạng số 73/CT-VKSLB ngày 13 tháng 11 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Chu Văn H ra trước Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn để xét xử về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên toà, bị cáo Chu Văn H khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như nội dung cáo trạng đã truy tố, bị cáo không có giấy phép lái xe, có uống bia trước khi điều khiển xe máy, không làm chủ được tốc độ nên đã vô ý đâm vào anh Tô Văn L dẫn tới tử vong. Sau khi gây tại nạn, bị cáo đã cùng gia đình thăm hỏi, thỏa thuận tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại 80.000.000 đồng.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị hại chị Tô Thị C có ý kiến: Chị là em ruột của bị hại, chị đã được gia đình bị hại ủy quyền tham gia làm việc cùng các cơ quan tiến hành tố tụng. Sau khi tại nạn xảy ra 2 bên gia đình đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ chi phí ma chay, tổn thất tinh thần số tiền là 80.000.000 đồng, gia đình chị đã nhận đủ tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Gia đình chị đã được Công an trả lại chiếc xe máy biển kiểm soát 12F6-7580, chị không có ý kiến gì thêm. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa Người đại diện theo ủy quyền của chị Chu Thị H có ý kiến: lúc Chu Văn H lấy xe máy tô BKS: 12L1 - 079.87 đi thì gia đình không biết, chiếc xe này Công an đã trả lại cho gia đình, chiếc xe có bị hư hỏng, không yêu cầu bồi thường gì cả, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo Chu Văn H được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, x khoản 1 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Chu Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

Về phần dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của gia đình bị cáo Chu Văn H và gia đình bị hại Tô Văn L cụ thể gia đình bị cáo Chu Văn H đã bồi thường cho gia đình bị hại Tô Văn L tổng các khoản là 80.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường.

Về xử lý vật chứng: Xác nhận cơ quan điều tra, công an huyện Lộc Bình đã trả lại tài sản là xe mô tô BKS: 12L1 - 079.87 cho chủ sở hữu là chị Chu Thị H và trả lại tài sản là xe mô tô BKS: 12F6 - 7580 cho chủ sở hữu là chị Trần Thị H.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Chu Văn H không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo Chu Văn H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Chu Văn H tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản khám hiện trường và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/8/2019, Chu Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát: 12L1 - 079.87 di chuyển trên đường Quốc lộ 4B theo hướng từ thành phố L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn. Khi đi đến Km14 + 950 Quốc lộ 4B thuộc thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, do Chu Văn H đi nhanh và không chú ý quan sát nên đã đâm vào xe mô tô BKS: 12F6 - 7580 do Tô Văn L điều khiển chở Tô Văn T ngồi phía sau, gây ra tai nạn. Hậu quả: Tô Văn L tử vong, Chu Văn H bị thương và hai xe mô tô hư hỏng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã thành niên, đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự. Nguyên nhân chính và trực tiếp dẫn đến tai nạn giao thông thuộc về bị cáo Chu Văn H. Chu Văn H là người điều khiển xe mô tô BKS: 12L1 - 079.87, không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, trong quá trình tham gia giao thông đã sử dụng rượu bia với nồng độ cồn đo được là 0,397 mg/l. Khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông Chu Văn H đã đi với tốc độ cao và không giữ khoảng cách an toàn với xe đi cùng chiều, không chú ý quan sát việc Tô Văn L bật đèn tín hiệu bên phải và điều khiển xe mô tô rẽ về phía bên phải, dẫn đến không làm chủ được tốc độ và tay lái nên đã đâm vào xe mô tô do Tô Văn L điều khiển; hành vi của Chu Văn H đã vi phạm Điều 12, Luật giao thông đường bộ quy định về tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe. Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường và theo tài liệu thu thập được khi xảy ra tai nạn giao thông Chu Văn H đi với tốc độ khoảng 70km/h; hành vi của Chu Văn H vi phạm điều 7, điều 11 và điều 12, Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT, ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Hành vi vi phạm các quy tắc về an toàn giao thông đường bộ của Chu Văn H khiến Tô Văn L tử vong, đã cấu thành tội phạm:“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự. Như vậy Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo Chu Văn H về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do vậy, có đủ cơ sở để kết tội bị cáo Chu Văn H đã phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện thấy rằng; Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ, trực tiếp xâm hại đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Để cá thể hóa hình phạt, có mức án thỏa đáng đối với bị cáo cần phải xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về nhân thân: Bị cáo Chu Văn H nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không bị xử phạt vi phạm hành chính, không bị xử lý kỷ luật, phạm tội lần đầu với lỗi vô ý. Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội Chu Văn H đã bồi thường cho gia đình người bị hại Tô Văn L tổng số tiền 80.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm, đồng thời có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị hại Tô Văn L cũng đã uống rượu bia trước khi tham gia thông, bị cáo là lao động chính trong gia đình, cha, mẹ bị cáo đã già yếu, bệnh tật, hoàn cảnh điều kiện kinh tế khó khăn, gia đình bị cáo có bà nội La Thị R tham gia dân công hỏa tiến, ông ngoại Lương Văn M tham gia kháng chiến được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Hội đồng xét xử xét thấy phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ mà giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với Tô Văn L là người điều khiển xe mô tô BKS:12F6 - 7580, có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, trong quá trình tham gia giao thông đã sử dụng rượu bia. Khi điều khiển xe mô tô Tô Văn L đã bật đèn tín hiệu bên phải và đi chếch về phía bên phải để vào đường nhánh đi hướng UBND xã K. Khi đi đến phần đường bên phải hướng thành phố L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn thì bị xe mô tô của Chu Văn H đi cùng chiều đâm vào phía bên phải xe mô tô dẫn đến hậu quả Tô Văn L tử vong. Hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông của Tô Văn L đã chấp hành đúng Điều 15, Luật giao thông đường bộ. Khi xảy ra tai nạn giao thông Tô Văn L không có lỗi.

Đối với Tô Văn T là người ngồi sau xe mô tô BKS: 12F6 - 7580, khi Tô Văn L đang điều khiển xe mô tô chuẩn bị đến vào đường rẽ UBND xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì Tô Văn T ngồi sau quan sát thấy xe mô tô của Chu Văn H đang đi cùng chiều và đi tốc độ rất cao đi tới, Tô Văn T hoảng sợ nhẫm chân trái xuống đất, rồi nhấc chân phải bước ra khỏi xe để tránh, không kịp thông báo cho Tô Văn L biết, khi vừa bước ra khỏi xe mô tô thì xe mô tô của Chu Văn H đâm vào bên phải xe mô tô của Tô Văn L khiến Tô Văn L tử vong, còn Tô Văn T không bị thương tích gì. Căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập được khi bước ra khỏi xe Tô Văn T không tác động lực hay đẩy xe mô tô của Tô Văn L về trước để dẫn đến việc va chạm xảy ra. Do đó, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định khi xảy ra tai nạn giao thông Tô Văn T không có lỗi là có cơ sở.

Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy sự thỏa thuận của gia đình bị cáo Chu Văn H bồi thường thiệt hại tính mạng, tổn thất tinh thẩn tổng cộng các khoản là 80.000.000 đồng cho gia đình bị hại Tô Văn L là tự nguyện, hợp pháp nên Hội đồng xét xử công nhận. Xác nhận gia đình bị cáo Chu Văn H đã trả cho gia đình bị hại Tô Văn L 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) theo biên bản thỏa thuận ngày 01/10/2019 và giấy bàn giao tiền ngày 31/8/2019 và giấy biên nhận tiền bồi thường thiệt hại do va chạm giao thông ngày 01/10/2019. Bị cáo Chu Văn H đã trả đủ tiền bồi thường thiệt hại.

Đối với chị Chu Thị H là chủ sở hữu xe mô tô BKS: 12L1 - 079.87 và là chị gái ruột của Chu Văn H vắng mặt, người đại diện theo ủy quyền của chị Chu Thị H anh Hoàng Văn L có ý kiến: Do Chu Văn H tự ý lấy xe mô tô đi, chị Chu Thị H không biết nên không có lỗi. Về những thiệt hại, hư hỏng của xe mô tô BKS: 12L1 - 079.87, do Chu Văn H là em ruột của chị Chu Thị H nên chị Chu Thị H không yêu cầu Chu Văn H bồi thường dân sự. Đối với đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, x khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo của anh Hoàng Văn L, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ nên không chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lộc Bình đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản là xe mô tô BKS: 12L1 - 079.87 cho chủ sở hữu là Chu Thị H và trả lại tài sản là xe mô tô BKS: 12F6 - 7580 cho chủ sở hữu là bà Trần Thị H là đúng theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về mức hình phạt và các vấn đề khác của vụ án là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Chu Văn H bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án,

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015; khoản 1 Điều 585, Điều 591 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 1 Điều 333; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chu Văn H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

3.Về phần dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa gia đình bị cáo Chu Văn H và gia đình bị hại Tô Văn L: Cụ thể gia đình bị cáo Chu Văn H bồi thường thiệt hại tính mạng, tổn thất tinh thần tổng cộng các khoản là 80.000.000 đồng cho gia đình bị hại Tô Văn L. Xác nhận gia đình bị cáo Chu Văn H đã trả cho gia đình bị hại Tô Văn L 80.000.000đồng (Tám mươi triệu đồng) theo biên bản thỏa thuận ngày 01/10/2019 và giấy bàn giao tiền ngày 31/8/2019 và giấy biên nhận tiền bồi thường thiệt hại do va chạm giao thông ngày 01/10/2019. Bị cáo Chu Văn H đã trả đủ tiền bồi thường thiệt hại.

4. Xử lý vật chứng: Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lộc Bình đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản là xe mô tô BKS: 12L1

- 079.87 cho chủ sở hữu là Chu Thị H và trả lại tài sản là xe mô tô BKS: 12F6 - 7580 cho chủ sở hữu là bà Trần Thị H.

5. Về án phí: Bị cáo Chu Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Chu Văn H, ông Tô Văn X, chị Trần Thị H, chị Chu Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ