vanban.org

Bản án 69/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 01/11/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị D"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2019/HNGĐ-ST
Ngày 01 - 11 - 2019
V/v Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Quốc Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Ngọc Trân

Ông Nguyễn Văn Quyền

- Thư ký phiên tòa: Ông Danh Quàng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 01 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2019 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 75/2019/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà PHẠM THỊ Đ, sinh ngày 24/8/1988;

Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh K.

- Bị đơn: Ông NGUYEN, BAO D, sinh năm 1988;

Địa chỉ: 50 Fr St Wo MA 01603, U.

(Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 15/8/2019, bản tự khai ngày 04/10/2019 nguyên đơn bà Phạm Thị Đ trình bày:

Ngày 09/02/2014, bà và ông Nguyen, Bao D kết hôn, được Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 27/12/2013. Sau khi kết hôn, bà chung sống với gia đình ở ấp V, xã V, huyện C, tỉnh K còn ông Nguyen, Bao D trở về Hoa Kỳ. Trong khoảng thời gian trở về Hoa Kỳ, ông Nguyen, Bao D ít liên lạc hỏi thăm bà và gia đình. Vào khoảng tháng 8/2014, ông Nguyen, Bao D trở về Việt Nam và ở lại đến tháng 9/2016, thời gian này bà và ông Nguyen, Bao D sống ly thân, không có liên lạc, sau đó ông Nguyen, Bao D trở về Hoa Kỳ đến nay ông và bà không có liên lạc với nhau. Bà nhận thấy không còn tình cảm với ông Nguyen, Bao D và nếu kéo dài cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc. Do đó, bà làm đơn yêu cầu Tòa giải quyết như sau :

- Về hôn nhân: Cho bà được ly hôn với ông Nguyen, Bao D.

- Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Phía bị đơn ông Nguyen, Bao D: Tại văn bản đồng ý ly hôn, ông Nguyen, Bao D thống nhất lời trình bày của nguyên đơn bà Phạm Thị Đ, ông và bà Phạm Thị Đ kết hôn thông qua mai mối, được Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng đăng ký kết hôn ngày 27/12/2013. Sau khi kết hôn ông trở về Hoa Kỳ, đến khoảng 8/2014 ông trở về Việt Nam và ở lại đến tháng 9/2016 thì trở về Hoa Kỳ. Khoảng thời gian này, ông và bà Đ sống ly thân và không có liên lạc với nhau cho đến nay. Hiện, ông và bà không còn tình cảm với nhau và nếu kéo dài cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc. Do đó, ông cũng đồng ý ly hôn với bà Đ và yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Cho ông được ly hôn với bà Phạm Thị Đ.

- Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, ông có đơn xin xét xử vắng mặt tại các phiên làm việc, phiên tòa xét xử vụ việc.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn điện các chứng cứ, ý kiến của nguyên đơn và bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Phạm Thị Đ, ông Nguyen, Bao D đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa bà Phạm Thị Đ và ông Nguyen, Bao D là hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đúng các điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn, được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/12/2013 theo đúng quy định tại Điều 9, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (nay là Điều 8, 9 Bộ luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

Nguyên nhân dẫn đến ly hôn giữa bà Đ và ông Nguyen, Bao D là do sau khi kết hôn ông Nguyen, Bao D trở về Hoa Kỳ, sau đó ông Nguyen, Bao D trở về Việt Nam, trong khoảng thời gian ông Nguyen, Bao D ở Việt Nam thì hai bên đã sống ly thân, không liên lạc với nhau cho đến nay. Bà Đ và ông Nguyen, Bao D không còn tình cảm, nếu kéo dài cũng không thể mang lại hạnh phúc cho nhau, nên giữa ông bà đã thống nhất ly hôn.

Nhận thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Đ và ông Nguyen, Bao D lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên trong nghị án Hội đồng xét xử thống nhất cho bà Phạm Thị Đ được ly hôn với ông Nguyen, Bao D.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị Đ và ông Nguyen, Bao D đều khẳng định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Phạm Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 37; Điều 228; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Phần tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Đào.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Đ được ly hôn với ông Nguyen, Bao D.

2. Về quan hệ con chung: Bà Phạm Thị Đ và ông Nguyen, Bao D không có con chung, nên không xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị Đ và ông Nguyen, Bao D không có tài sản chung, nợ chung, nên không xem xét.

4. Về án phí: Bà Phạm Thị Đ nộp án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số 0007018 ngày 19/7/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

5. Quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày. Riêng ông Nguyen, Bao D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sử đổi bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung/.

Cỡ chữ