vanban.org

Bản án 69/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thúy A .

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Thúy A được ly hôn với anh Trương Minh C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn A -C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thúy A .
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 20- 9- 2019
V/v ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT- TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Vĩnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Phẩm.

2. Ông Huỳnh Văn Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thúy Duy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên toà: Không.

Ngày 20 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang thít, tỉnh Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 189/2019/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2019 về ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Phạm Thị Thúy A, sinh 1990. Địa chỉ: Ấp Phú H, xã N Phú, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Trương Minh C, sinh 1984. Địa chỉ: Ấp Phú H, xã N Phú, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/6/2019, nguyên đơn Phạm Thị Thúy An trình bày:

Do quen biết nhau, nên năm 2008 chị Phạm Thị Thúy A và anh Trương Minh C kết hôn với nhau. Chị A và anh C đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Ngày 10/6/2008, chị và anh được cấp giấy chứng nhận kết hôn mang số 36, quyểm số 01. Thời gian đầu chị và anh sống H thuận, hạnh phúc. Đến năm 2018, mâu thuẩn vợ chồng phát sinh, thường xuyên gây cãi dẫn đến ly thân nhau. Kể từ đó mỗi người có cuộc sống riêng, không quan tâm đến nhau nữa. Tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, chị An khởi kiện xin ly hôn với anh C.

Chị A và anh C có hai con chung, gồm cháu trai tên Trương Minh Tú, sinh ngày 06/3/2009 và cháu gái tên Trương Thị Ánh D, sinh ngày 10/11/2012. Khi ly hôn chị An yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Thị Ánh D, giao anh C trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Minh Tú. Chị An và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị An không yêu cầu chia tài sản chung.

Thu thập chứng cứ và H giải bị đơn Trương Minh C trình bày:

Anh C thừa nhận lời trình bày của chị An về quan hệ hôn nhân, con chung là đúng. Anh C còn thương chị A nên không đồng ý ly hôn với chị An. Trường hợp pháp luật cho chị An ly hôn với anh C, anh C thống nhất nhận trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tú và giao chị A trực tiếp nuôi dưỡng cháu D. Anh C không yêu cấp dưỡng nuôi con. Anh C không yêu cầu chia tài sản chung.

Tại phiên tòa, chị An và anh C giữ nguyên ý kiến và yêu cầu đã nêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng:

Chị Phạm Thị Thúy A khởi kiện xin ly hôn và xin nuôi con đối với Trương Minh C, có nơi cư trú tại ấp Phú H, xã N Phú, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Tòa án nhân dân huyện Mang Thít thụ lý giải quyết sơ thẩm và xác định tranh chấp ly hôn và nuôi con là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

2.1. Quan hệ hôn nhân giữa chị A và anh C là hợp pháp. Chị An và anh C đã có thời gian chung sống hạnh phúc và có với nhau hai con chung. Mâu thuẩn phát sinh không khắc phục được dẫn đến ly hôn từ năm 2018. Tòa án đã tiến hàng H giải đoàn tựu nhiều lần, nhưng chị An đều cương quyết ly hôn với anh C. Cho thấy chị An không còn tình cảm yêu thương đối với anh C nên không thể ép buộc chị An phải tiếp tục chung sống làm vợ chồng với anh C. Điều này đã chứng minh được mục đích hôn nhân giữa chị An và anh C không thể đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Chị An xin ly hôn với anh C là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.

2.2. Chị An và anh C có có hai con chung là cháu trai tên Trương Minh Tú, sinh ngày 06/3/2009 và cháu gái tên Trương Thị Ánh D, sinh ngày 10/11/2012. Khi ly hôn chị An yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D, giao anh C trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tú. Chị An và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh C thống nhất với ý kiến của chị An. Đây là sự thỏa thuận của chị An và anh C, phù hợp với nguyện vọng của cháu Tú, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.

2.3. Chị An và anh C không yêu cầu chia tài sản chung nên không xét.

. Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc chị An nộp 300.000đ án phí hôn nhân là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thúy A .

1. Về hôn nhân:

Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, tuyên:

Chị Phạm Thị Thúy A được ly hôn với anh Trương Minh C.

2. Về con chung:

Áp dụng khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, tuyên:

Buộc anh Trương Minh C giao cháu Trương Thị Ánh D, sinh 10/11/2012 cho chị Phạm Thị Thúy A trực tiếp nuôi dưỡng.

Giao anh Trương Minh C trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Minh Tú, sinh ngày 06/3/2009.

Chị A và anh C có tuyền tới lui, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.

3. Vê cấp dưỡng nuôi con chung:

Không xét.

3. Về chia tài sản chung:

Không xét.

4. Vế án phí hôn nhân sơ thẩm:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, tuyên:

Buộc chị Phạm Thị Thúy A nộp 300.000đ ( ba trăm ngàn đồng). Chị A được khấu trừ từ 300.000đ ( ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít ngày 18/6/2019, lai số 0007090. Chị An không phải nộp thêm.

Án xử công khai sơ thẩm. Tuyên án vắng mặt nguyên đơn Phạm Thị Thúy A và bị đơn Trương Minh C. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15( mười lăm) ngày kể từ tuyên án.

Cỡ chữ