- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2018/HS-ST Ngày 30/8/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Nguyên Thoại
Ông Lục Văn Vãn
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Minh Trang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2018/HSST, ngày 13/8/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Dương Văn T (tên gọi khác: không) - sinh ngày 17/4/1972 tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Nơi cư trú: thôn Đồng Diễn, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 10/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Lưu và bà Vũ Thị Liên; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Lụa (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: 01 (Quyết định số 10 ngày 12/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn T thời hạn là 18 tháng, đến ngày 06/10/2017 Dương Văn T bỏ trốn khỏi trung tâm); nhân thân: Bản án số 42 ngày 30/10/2003 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 89 ngày 28/12/2004 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bản án số 50 ngày 15/5/2008 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tính đến ngày phạm tội bị cáo đã được xóa án tích đối với 03 bản án nêu trên. Ngoài ra bị cáo còn bị xử lý hành chính gồm: Tháng 4/2003 bị Công an xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; tháng 7/2003 bị Công an xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, 02 tiền sự trên bị cáo đã chấp hành xong. Bị cáo bị tạm giữ ngày 07/6/2018, bị tạm giam từ ngày 13/6/2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai - có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Đinh Xuân Lộc - Địa chỉ: Tổ 5, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 07/06/2018 Dương Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 22K1 - 9124 đi từ phòng trọ ở khu vực phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực đầu cầu Cốc Lếu, Dương Văn T thấy một người nam giới khoảng 30 tuổi đứng trên vỉa hè. Tại đây Dương Văn T đã gặp và thỏa thuận mua của người nam giới này 09 gói ma túy với giá là 900.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Dương Văn T cất 09 gói ma túy vào túi áo ngực phía trong bên trái đang mặc rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về tỉnh Tuyên Quang. Khi đi đến khu vực tổ 8 phường Nam Cường, thành phố Lào Cai thì bị Tổ công tác Công an phường Nam Cường và Công an thành phố Lào Cai phát hiện và bắt quả tang. Quá trình kiểm tra Dương Văn T tự giác lấy từ trong túi áo ngực phía trong bên trái giao nộp 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 09 gói giấy bạc màu trắng, bên trong đều chứa chất bột khô, mầu trắng, vón cục. Dương Văn T khai nhận đấy là Heroine. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo đúng quy định. Ngoài ra còn tạm giữ của Dương Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu DIDIA biển kiểm soát 22K1- 9124 đã qua sử dụng và 7.500.000 đồng.
Ngày 07/6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng đã thu giữ của Dương Văn T.
Tại kết luận giám định số 114/GĐMT, ngày 11/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,53 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.
Bản Cáo trạng số 72/CT-VKS ngày 13/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã truy tố bị cáo Dương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ ma túy của mình như kết luận điều tra của cơ quan điều tra và Bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù; Áp dụng khoản 5 Điều 249 đề nghị phạt bị cáo từ 7.000.000 đồng đến 7.500.000 đồng; tuyên xử lý vật chứng và án phí theo quy định.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
. Về nội dung:
. Về xác định tội phạm và áp dụng pháp luật: Ngày 07/06/2018 Dương Văn T đã có hành vi mua 09 gói ma túy của một người đàn ông tại khu vực cầu Cốc Lếu thuộc thành phố Lào Cai với giá 900.000đ với mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, Tài cất giấu số ma túy mua được vào túi áo ngực bên trái đang mặc và điều khiển xe về tỉnh Tuyên Quang. Khi đi đến địa phận phường Nam Cường, thành phố Lào Cai thì bị lực lượng Công an kiểm tra và bắt giữ. Tài tự giác giao nộp số ma túy mua được và khai nhận đấy là Heroine. Ngày 07/6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng đã thu giữ của Dương Văn T. Tại kết luận giám định số 114/GĐMT, ngày 11/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,53 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt phạm tội quả tang, kết luận giám định, cũng như các lời khai khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Dương Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố đối với bị cáo Dương Văn T về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
. Về tính chất mức độ hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Bị cáo nhận thức rất rõ về rõ tác hại của ma túy và chế độ độc quyền, thống nhất quản lý chất ma túy của Nhà nước nhưng do nghiện ma túy nên bị cáo đã thực hiện hành vi mua ma túy (Heroine) với trọng lượng (khối lượng) 0,53 gam mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của chính bản thân bị cáo, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Về tình tiết giảm nhẹ: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai nhận tội, ngoài ra bị cáo có mẹ đẻ là bà Vũ Thị Liên được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 12/9/2017 Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Dương Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 18 tháng, tuy nhiên đến ngày 06/10/2017 Tài đã bỏ trốn khỏi trung tâm. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy và có nhân thân xấu, thể hiện như sau: Năm 2003, Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Năm 2004 Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt bị cáo 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Năm 2008 Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tính đến ngày phạm tội bị cáo đã được xóa án tích đối với 03 bản án nêu trên. Ngoài ra bị cáo còn bị xử lý hành chính gồm: Tháng 4/2003 bị Công an xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; tháng 7/2003 bị Công an xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, 02 tiền sự trên bị cáo đã chấp hành xong. Sau những lẫn bị xét xử và bị xử lý hành chính bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục mua ma túy về để sử dụng, vì vậy Tòa xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, Hội đồng xét xử xét thấy cần phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng: Đối với 0,53 gam ma túy Heroine cơ quan điều tra đã tiến hành trích mẫu 0,08 gam để giám định, còn lại 0,45 gam cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu DIDIA, biển kiểm soát 22K1 – 9124 mang tên Hoàng Văn Viện - Trú tại: xã Lưỡng Vượng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, chiếc xe này anh Viện đã bán cho bị cáo Vũ Văn Tài nhưng Tài chưa làm thủ tục sang tên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai chiếc xe không liên quan đến vụ án vì vậy cần trả lại cho bị cáo; Đối với số tiền 7.500.000 đồng thu giữ của bị cáo cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này còn có đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo ở khu vực cầu Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, Tòa xét thấy ngoài lời khai của các bị cáo ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác để làm rõ đối tượng, cơ quan điều tra không đề cập xử lý vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Dương Văn T 01 (Một) 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 07/6/2018. Phạt bị cáo 7.300.000đ (Bảy triệu ba trăm nghìn đồng) sung quỹ Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 0,45 gam Heroine được tái niêm phong theo quy định bằng bì thư in sẵn của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, trên mặt bì thư có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Dương Văn T có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện (thu giữ) ngày 07/6/2018 tại Tổ 8, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.
- Trả lại cho bị cáo Dương Văn T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu DIDIA, biển kiểm soát 22K1 – 9124, xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong.
(Các vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2018 giữa Công an thành phố Lào Cai và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai).
- Tạm giữ số tiền 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) của bị cáo Dương Văn T để đảm bảo thi hành án (theo Giấy nộp tiền ngày 14/8/2018 vào tài khoản số 3949.0.9049863 tại Kho bạc Nhà nước thành phố Lào Cai).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án buộc bị cáo Dương Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo Dương Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai; - VKSND TP Lào Cai; - Công an TP Lào Cai; - Chi cục THADS TP Lào Cai; - Cơ quan THAHS CATP Lào Cai; - Bị cáo; - Lưu: hồ sơ; tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Hoàng Tùng |