- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2018/HS-ST Ngày 25-7-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Lò Thị Chơ Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Việt
Ông Cầm Văn Tổ Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy –Thư ký Tòa án Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tâm - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2018/HSST ngày 14 tháng 6 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Quàng Văn T. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 01 tháng 3 năm 1967 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 04/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quàng Văn C (đã chết) và bà: Quàng Thị D (đã chết); Bị cáo có vợ là Quàng Thị E, sinh năm 1970; Bị cáo có 08 con, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 2007.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 39/2007/HSST ngày 04/4/2007 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xử phạt Quàng Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Đã được đương nhiên xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/3/2018, giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 30 phút ngày 02/3/2018 Đồn công an Nà Ớt phối hợp cùng tổ công an phụ trách xã Hát Lót làm nhiệm vụ tại đoạn đường liên bản thuộc bản Nà Hạ, xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát hiện đối tượng Quàng Văn T có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã áp sát và yêu cầu T có ma túy thì tự giác giao nộp. T đã tự giác lấy từ trong túi áo ngực bên phải đang mặc 01 gói được gói bằng mảnh politilen màu trắng, lớp tiếp theo được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa 03 gói nhỏ đều được gói bằng mảnh politilen màu hồng bên trong các gói đều chứa chất bột nén màu trắng (nghi là Heroin). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Quàng Văn T và niêm phong toàn bộ vật chứng.
Quá trình điều tra Quàng Văn T khai nhận:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02/3/2018, Quàng Văn T đi bộ từ nương của gia đình thuộc bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La về nhà. Đi được khoảng 2km T gặp một người phụ nữ không quen biết đang đi bộ trên đường. T hỏi mua 150.000VNĐ Heroin và đưa tiền. Người phụ nữ cầm tiền rồi lấy từ trong cạp quần đang mặc đưa cho T 01 gói được gói bằng mảnh politilen màu trắng, lớp tiếp theo là mảnh giấy bạc màu vàng bên trong chứa 03 gói đều được gói bằng mảnh politilen màu hồng. T cầm và cất gói ma túy vào túi áo ngực bên phải đang mặc rồi đi về nhà.
Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm xong, T cầm theo gói ma túy đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực bản Nà Hạ, xã Hát Lót, huyện Mai Sơn thì bị tổ công tác thuộc Công an huyện Mai Sơn bắt quả tang thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng.
Ngày 02/3/2018 Công an huyện Mai Sơn phối hợp với phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút m u giám định đối với số ma túy thu giữ của Quàng Văn T. Kết quả:
Gói thứ nhất có khối lượng 0,096gam, trích rút toàn bộ làm m u giám định, ký hiệu M1.
Gói thứ hai có khối lượng 0,11gam, trích rút toàn bộ làm m u giám định, ký hiệu M2.
Gói thứ ba có khối lượng 0,082gam, trích rút toàn bộ làm m u giám định, ký hiệu M3.
Ngày 09/3/2018, Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ra bản kết luận giám định số 346/KLMT kết luận:
“Mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2, M3 là chất ma túy; Khối lượng chất ma túy thu giữ là 0,288gam; Loại chất Heroin.”
Tại phiên toà bị cáo Quàng Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Bản cáo trạng số 52/CT-VKSMS ngày 12/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Quàng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015:
xử phạt bị cáo Quàng Văn T từ 15 đến 18 tháng tù giam.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu, 01 mảnh giấy bạc màu vàng và các gói nilon ban đầu được niêm phong theo quy định.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.
Bị cáo Quàng Văn T tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi của bị cáo Quàng Văn T thì thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận: Quàng Văn T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 02/3/2018 tại bản Nà Hạ, xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, bị cáo đã bị tổ công tác Công an huyện Mai Sơn bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,288 gam Heroine với mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 00 phút ngày 02/3/2018, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, trích rút m u giám định và niêm phong lại vật chứng; phù hợp với kết luận giám định số 347 ngày 10/3/2018 của Phòng k thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo... và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có gì mâu thu n.
Như vậy với việc tàng trữ 0,288gam Heroine đã có đầy đủ cơ sở kết luận bị cáo Quàng Văn T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy, Viện kiểm sát truy tố và Tòa án xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...”
Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, nhưng bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng và là người có nhân thân xấu. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, dân sự; bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 tại bản án số 39/2007/HSST ngày 04/4/2007, đã được đương nhiên xóa án tích. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ ma túy là trái phép nhưng do nghiện ma túy bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý. Do đó xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết: Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo phần nào.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên toà thấy rằng, gia đình bị cáo không có tài sản gì có giá trị, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy. Thu nhập của bị cáo chỉ đủ cho sinh hoạt tối thiểu của bản thân bị cáo và gia đình. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu, 01 mảnh giấy bạc màu vàng và các gói nilon ban đầu được niêm phong theo quy định là các vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc số ma túy Quàng Văn T khai mua của một người phụ nữ không quen biết do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không có cơ sở để tiếp tục điều tra làm rõ. Cần chấp nhận.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 15 (mười lăm) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (02/3/2018).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu, 01 mảnh giấy bạc màu vàng và các gói nilon ban đầu được niêm phong theo quy định.
3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/7/2018).
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND Mai Sơn ; - Viện KSND tỉnh Sơn La ; - Nhà tạm giữ Công an huyện Mai Sơn ; - Công an huyện Mai Sơn ; - Chi cục THADS Mai Sơn ; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Thị Chơ |