- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69 /2018/HS-ST. Ngày 29/11/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Như Trang.
2. Bà Vũ Thị Hoàn.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Huy Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2018/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2018/QĐST-HS ngày 16/11/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Anh T, sinh năm 1982.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã, huyện K, tỉnh Thái Bình; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1958; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Bản án số 29/HSST ngày 21/3/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 03 năm tù về tội cướp giật tài sản, bị cáo đã chấp hành xong án phí dân sự; Bản án số 263/HSST ngày 20/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chưa chấp hành xong án phí dân sự; Bản án số 219/HSST ngày 30/9/2015 của Tòa án nhân dân Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chưa đã chấp hành xong án phí dân sự. Nhân thân Năm 2012 bị đưa đi cơ sở chữa bệnh bắt buộc theo Quyết định số 5395/QĐ-UBND ngày 29/6/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh thời hạn 02 năm. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/6/2018 đến ngày 06/6/2018 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 04/6/2018, tại chỗ ở của Phạm Anh T, thôn Đ, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình, Công an huyện Kiến Xương bắt quả tang Phạm Anh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại túi quần đang mặc phía trước bên trái. Phạm Anh T khai: Do nghiện ma túy nên khoảng 07 giờ ngày 04/6/2018 có đi nhờ xe của một người không quen biết từ đầu đường gần nhà đến khu vực cầu Kiến Xương, thành phố Thái Bình mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi T xuống xe đi bộ một đoạn thì gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên và địa chỉ, nghĩ người này có bán ma túy nên T lại gần hỏi: “Anh có đá không, bán em ba trăm” (ý hỏi mua ma túy đá), người đàn ông nói: “Có, đưa tiền đây”. T đưa cho người đàn ông đó 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), người này nhận tiền rồi đưa lại cho T 01 (Một) túi nilon màu trắng, viền xanh có khóa kéo nhựa, bên trong chất tinh thể dạng cục trong suốt. Biết là ma túy T nhận và cất gói ma túy đá mua được vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long rồi cất dấu vào túi quần đang mặc phía trước bên trái. Sau khi mua được ma túy, T đón xe ôm của một người không quen biết về nhà để sử dụng, chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 204/KLGĐ- PC54 ngày 04/6/2018, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu thu của Phạm Anh T gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,6944 gam (Không phẩy sáu nghìn chín trăm bốn mươi bốn gam). Methamphetamine STT: 323, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của chính Phủ.”
Tại bản cáo trạng số 70/KSĐT ngày 15/11/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o, khoản 2, điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Anh T về tội danh và điều luật như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm o, khoản 2, điều 249; điểm s, khoản 1, điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Anh T 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2018.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật đựng trong phong bì niêm phong số 204/KLGĐ- PC54 ngày 04/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
Về án phí: Bị cáo Phạm Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và đã được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Kiến Xương lập hồi 10 giờ 05 phút ngày 04/6/2018; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xương lập hồi 11 giờ 10 phút ngày 04/6/2018 tại chỗ ở của Phạm Anh T thôn Đ, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình; Bản kết luận giám định số 204/KLGĐ- PC54 ngày 04/6/2018, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến là ông Phạm Văn T sinh năm 1959 và ông Vũ Hồng P, sinh năm 1955 đều trú tại thôn Đ, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình; ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1950 trú tại thôn B, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình và phù hợp với những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Bị cáo có 03 tiền án: Bản án số 29/HSST ngày 21/3/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản; Bản án số 263/HSST ngày 20/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 219/HSST ngày 30/9/2015 của Tòa án nhân dân Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích tiếp tục phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy do đó bị cáo bị truy tố theo điểm o, khoản 2, Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.
Từ căn cứ nêu trên hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phạm Anh T đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm o, khoản 2, Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249 quy định:
1.........
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: .............
o) Tái phạm nguy hiểm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cầm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất gây nghiện. Ma túy không những làm sa sút sức khỏe, trí tuệ con người mà còn hủy hoại đạo đức nhân cách con người, là tác nhân lan truyền căn bệnh HIV/AIDS là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu năm 2012 bị đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy làm bài học vẫn cố tình tàng trữ ma túy để sử dụng. Vì vậy phải xử lý nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng mức độ phạm tội của bị cáo và có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Ngoài hình phạt tù trong điều luật còn quy định: Người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng nên không áp dụng hình bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 204/KLGĐ ngày 04/6/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
[9] Về nguồn gốc ma túy bị cáo Phạm Anh T khai mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại khu vực cầu Kiến Xương, thành phố Thái Bình. Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xương đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người bán để xử lý theo quy định.
[10] Về án phí: Bị cáo Phạm Anh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm o, khoản 2, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Anh T 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 04/6/2018.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,6610 gam Methamphetamine đựng trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 204/KLGĐ ngày 04/6/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
(Vật chứng trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình quản lý).
4. Về án phí: Bị cáo Phạm Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Anh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Kiến Xương; - Công an huyện Kiến Xương; - THADS huyện Kiến Xương; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa ( đã ký) Phan Anh Tuấn |