- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA HSPT NGUYEN DUC M VI PHAM CAC QUY DINH VE GIAO THONG 2018 - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều…"
- Tòa quyết gì? luật Tố tụng hình sự 2015.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2018/HS-PT Ngày 04-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Long Kiếm;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Trung Vân;
Ông Phạm Văn Tuệ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Hữu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà
Hoàng Thu Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 61/2018/TLPT-HS
ngày 13 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Đức M do có kháng cáo của bị
cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2018/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm
2018 của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Đức M, sinh ngày 11/6/1982 tại tỉnh Bắc Giang. Nơi đăng ký hộ
khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ X, khu X1, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang;
nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức M1 và bà: Nguyễn Thị
T; vợ: Nguyễn Thị T1 (đã ly hôn), Lê Thị T2 (đã ly hôn); con: Có 02 con, sinh
năm 2007 và 2012; tiền án: Có 01 tiền án, tại bản án số: 05/2016/HSPT ngày 12
tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt bị cáo Nguyễn
Đức M 02 năm 09 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; tiền sự: Không; nhân
thân: Không tốt; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/12/2017
đến nay, bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Nguyên đơn dân sự: Công ty cổ phần thương mại dịch vụ vận tải Q, đại
diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1973, chức vụ Chủ tịch
Hội đồng quản trị; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm
1988, địa chỉ: Tổ phố H1, phường T3, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 15 tháng 11 năm 2017, Nguyễn Đức M nhận lời chở
Nguyễn Công T4 đi từ nhà Nguyễn Công T4 lên khu vực cửa khẩu thuộc huyện V, tỉnh Lạng Sơn với giá cước 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng). Do xe taxi của Nguyễn Đức M có đồng hồ tính cước giá cao hơn giá cước Nguyễn Công T4 trả, nên Nguyễn Đức M đã mượn xe ô tô loại 05 chỗ, nhãn hiệu Chevrolet biển kiểm soát 98A - 010.92 của Nguyễn Thanh H để đưa Nguyễn Công T4 đi. Nguyễn Đức M có giấy phép lái xe hợp lệ, xe ô tô biển kiểm soát 98A - 010.92 đạt tiêu chuẩn hiện hành về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đến ngày 23 tháng 7 năm 2018. Khoảng 01 giờ ngày 16 tháng 11 năm 2017 Nguyễn Đức M chở Nguyễn Công T4 đến khu vực C Cửa khẩu C1 thuộc xã T5, huyện V, tỉnh Lạng Sơn và chờ Nguyễn Công T4 bốc 05 bao tải dứa, bên trong có các thùng bìa cattong đựng hàng hóa lên hàng ghế sau xe ô tô, đến 05 giờ 00 phút cùng ngày Nguyễn Đức M điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98A - 010.92, chở Nguyễn Công T4 ngồi ở ghế phụ và hàng hóa (Nguyễn Đức M không biết là hàng gì) đi từ khu vực C theo Quốc lộ 1A để về Bắc Giang. Khoảng 07 giờ ngày 16 tháng 11 năm 2017, khi đi đến Km 59 + 500 Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn Đ, xã C2, huyện C2, tỉnh Lạng Sơn, do Nguyễn Đức M buồn ngủ nên đã điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98A - 010.92 đi sang phần đường bên trái dành cho xe đi ngược chiều và đâm vào góc bên trái của xe ô tô chở khách biển kiểm soát 29B - 0126.37 do Vũ Minh S điều khiển đi ngược chiều. Sau khi va chạm, xe ô tô biển kiểm soát 98A-010.92 văng sang bên phải, đầu xe quay về hướng Lạng Sơn - Hà Nội; xe ô tô chở khách biển kiểm soát 29B
- 0126.37 văng vào hộ lan tôn sóng bên phải hướng Hà Nội - Lạng Sơn và lao sang bên trái đường, đâm vào hộ lan tôn sóng thì dừng lại, đầu xe hướng Lạng Sơn - Hà Nội. Hậu quả: Nguyễn Đức M bị thương phải đi viện điều trị; 02 xe ô tô bị hư hỏng.
Tại Bản giám định kỹ thuật số 102/GĐKT-ĐK ngày 05 tháng 12 năm 2017
của Công ty cổ phần đăng kiểm xe cơ giới Lạng Sơn kết luận:
- Xe ô tô biển kiểm soát 29B-126.37 khi xảy ra tai nạn, các hệ thống an
toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.
- Xe ô tô biển kiểm soát 98A-010.92 khi xảy ra tai nạn hệ thống đèn chiếu
sáng phía trước, các đèn tín hiệu, còi bị phá hủy nên không có đủ cơ sở để kết luận; các hệ thống an toàn còn lại đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.
Ngày 24 tháng 11 năm 2017 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự
huyện Chi Lăng kết luận: Giá trị thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 98A-010.92 khoảng 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng); giá trị thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 29B - 126.37 khoảng 340.000.000 đồng (ba trăm bốn mươi triệu đồng). Tổng giá trị thiệt hại của 02 xe khoảng 490.000.000 đồng (bốn trăm chín mươi triệu đồng).
Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện
trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, lời khai của bị cáo và các tài liệu
chứng cứ khác thu thập được, xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn
đường trải nhựa áp phan rộng 9,80m có vạch kẻ sơn đứt quãng phân chia thành
hai chiều xe chạy. Điểm va chạm nằm trên phần đường xe ô tô chở khách biển
kiểm soát 29B - 126.37 hướng Hà Nội - Lạng Sơn. Lỗi trong vụ tai nạn giao
thông hoàn toàn do Nguyễn Đức M điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98A -
010.92 đi không đúng phần đường quy định. Hành vi của Nguyễn Đức M đã vi
phạm vào khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2018/HS-
ST ngày 08/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã
tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ”.
Căn cứ khoản 1 Điều 202; Điều 33; điểm p khoản 1; khoản 2 Điều 46; Điều
45 của Bộ luật Hình sự năm 1999; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M 03 (ba) năm tù
giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra bản án còn quyết định về phần bồi thường dân sự, xử lý vật chứng,
án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 20 tháng 5 năm 2018, bị cáo Nguyễn Đức M có đơn kháng cáo đề
nghị Tòa cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được chuyển hình phạt tù sang hình
phạt tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đức M thừa nhận toàn bộ hành vi
phạm tội và bổ sung kháng cáo, cụ thể bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
cho bị cáo được chuyển hình phạt tù sang hình phạt tiền, hoặc cho bị cáo được
cải tạo không giam giữ tại địa phương.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Đơn kháng cáo
của bị cáo Nguyễn Đức M làm trong hạn luật định nên hợp lệ, Tòa án cấp sơ
thẩm xét xử bị cáo với tội danh Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện
giao thông đường bộ là đúng người, đúng tội, không oan. Tòa án cấp sơ thẩm đã
đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã xem xét và áp
dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, do đó mức hình phạt 03 (ba)
năm tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo là phù hợp, đúng với quy
định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đưa ra lý do kháng cáo: Gia
đình bị cáo neo đơn, bị cáo phải chăm sóc bố, mẹ già yếu, bị cáo là lao động
chính trong gia đình; khi xảy ra tai nạn, bản thân bị cáo cũng bị thương tích nặng
phải điều trị dài ngày. Đồng thời bị cáo đã tích cực khắc phục hậu quả cho
nguyên đơn dân sự là Công ty Q, hai bên đã thỏa thuận thống nhất được với
nhau về phần bồi thường dân sự, đồng thời ông Nguyễn Văn Q1 là đại diện cho
Công ty Q cũng có đơn đề nghị xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó,
bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm b khoản 1,
khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
chấp nhận kháng cáo, chuyển hình phạt tù sang cải tạo không giam giữ đối với
bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về xác định trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Đức M đối với giá
trị tài sản bị thiệt hại trong vụ án, thấy rằng: Xe ôtô biển kiểm soát 98A-010.92 bị cáo Nguyễn Đức M điều khiển và gây ra tai nạn là xe ô tô bị cáo mượn của chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Thanh H, do đó bị cáo Nguyễn Đức M đã được giao quyền sử dụng xe một cách hợp pháp thông qua hợp đồng mượn tài sản dưới hình thức hợp đồng miệng giữa bị cáo Nguyễn Đức M và ông Nguyễn Thanh H. Căn cứ khoản 3 Công văn số: 3219/VKSTC-V1A ngày 07/10/2009 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc hướng dẫn giải quyết án tai nạn giao thông quy định: "Tài sản bị thiệt hại trong vụ án tai nạn giao thông phải là tài sản của người khác, người điều khiển phương tiện gây thiệt hại cho tài sản của mình hoặc tài sản được nhận thông qua hợp đồng thì không phải chịu trách nhiệm hình sự trong việc gây thiệt hại tài sản của chủ xe", do đó bị cáo Nguyễn Đức M không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với thiệt hại của xe ôtô biển kiểm soát 98A-010.92 bị cáo mượn của ông Nguyễn Thanh H, bị cáo Nguyễn Đức M chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 29B - 126.37 của Công ty cổ phần thương mại dịch vụ Q. Theo Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chi Lăng ngày 24 tháng 11 năm 2017: Giá trị thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 29B - 126.37 khoảng 340.000.000 đồng (ba trăm bốn mươi triệu đồng).
Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đức M đều thừa
nhận đã có hành vi Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, dẫn đến tai nạn, gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản của người khác là xe ôtô biển kiểm soát 29B - 126.37 của Công ty cổ phần thương mại dịch vụ Q với giá trị thiệt hại khoảng 340.000.000 đồng (ba trăm bốn mươi triệu đồng). Do đó, bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không kháng cáo về phần tội danh, chỉ kháng cáo mong Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được chuyển hình phạt tù sang hình phạt tiền, hoặc cho bị cáo được cải tạo không giam giữ tại địa phương.
Các căn cứ kháng cáo của bị cáo: Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án
nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo mức án 03 (ba) năm tù là quá nặng. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bố của bị cáo là ông Nguyễn Đức M1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến sỹ vẻ vang; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, neo đơn, phải chăm sóc bố, mẹ già yếu, bị cáo là lao động chính trong gia đình; khi xảy ra tai nạn, bản thân bị cáo cũng bị thương tích nặng phải điều trị dài ngày, hiện nay sức khỏe yếu vẫn phải theo dõi, điều trị; tai nạn xảy ra chỉ thiệt hại về tài sản không gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người và không còn nguy hiểm cho xã hội vì bị cáo đã bồi thường thiệt hại về tài sản. Bị
cáo đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn dân sự là Công
ty Q do ông Nguyễn Văn Q1 làm đại diện. Ông Nguyễn Văn Q1 có Đơn đề nghị
xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo đề ngày 07/8/2018, hai bên đã thỏa
thuận thống nhất được với nhau về phần bồi thường dân sự, ông Nguyễn Văn
Q1 không đề nghị Tòa án giải quyết về vấn đề dân sự trong vụ án. Bị cáo đã nộp
vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, số tiền
15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) để bồi thường dân sự cho ông Nguyễn
Thanh H.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức M, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ về tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, cụ thể sau
khi sự việc xảy ra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm
tội của mình; bố của bị cáo là ông Nguyễn Đức M1 được Nhà nước tặng thưởng
Huân chương Chiến sỹ vẻ vang nên đã cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ
quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đức M cung cấp thêm tình tiết
mới: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại
cho nguyên đơn dân sự là Công ty Q do ông Nguyễn Văn Q1 làm đại diện theo
pháp luật; ông Nguyễn Văn Q1 có Đơn đề nghị xin miễn trách nhiệm hình sự
cho bị cáo đề ngày 07/8/2018, hai bên đã thỏa thuận thống nhất được với nhau
về phần bồi thường dân sự, ông Nguyễn Văn Q1 không đề nghị Tòa án giải
quyết về vấn đề dân sự trong vụ án. Do đó bị cáo được hưởng thêm các tình tiết
giảm nhẹ mới quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự
1999.
Việc bị cáo đã nộp số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) để
bồi thường dân sự cho ông Nguyễn Thanh H không phải là tình tiết giảm nhẹ, vì
bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với thiệt hại phát sinh từ tai nạn
đối với xe ô tô mà bị cáo mượn của ông Nguyễn Thanh H
Trong vụ án này, hậu quả bị cáo Nguyễn Đức M gây ra chỉ thiệt hại về
tài sản, bản thân bị cáo Nguyễn Đức M cũng bị thương tích nặng phải điều trị
nhiều ngày. Mặc dù điều kiện kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn nhưng bị cáo
Nguyễn Đức M đã tích cực vay mượn tiền để khắc phục bồi thường thiệt hại cho
nguyên đơn dân sự là Công ty Q, được đại diện Công ty làm Đơn xin miễn trách
nhiệm hình sự. Bị cáo Nguyễn Đức M có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại
các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999, có một tình tiết
tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 1999; bị cáo có
nơi cư trú rõ ràng; sức khỏe bị cáo hiện vẫn bị ảnh hưởng do tai nạn, phải theo
dõi điều trị. Thấy rằng, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã
hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục bị
cáo và răn đe phòng ngừa chung, qua đó thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận
kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức M, chuyển hình phạt của bị cáo từ hình phạt
tù sang hình phạt cải tạo không giam giữ. Sau vụ tai nạn, bị cáo đã bị thương
tích nên ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, thu nhập cá nhân không ổn định nên không áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập của bị cáo. Việc sửa án do có tình tiết mới, Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định nêu trên nên
được chấp nhận.
Xác nhận giữa bị cáo Nguyễn Đức M và Công ty cổ phần thương mại
dịch vụ vận tải Q do ông Nguyễn Văn Q1 là người đại diện theo pháp luật đã thống nhất được với nhau về việc giải quyết trách nhiệm dân sự. Hiện ông Nguyễn Văn Q1 không đề nghị Tòa án giải quyết về vấn đề dân sự trong vụ án nữa.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Đức M đã nộp 15.000.000 đồng (mười lăm
triệu đồng) vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn để bồi thường dân sự cho ông Nguyễn Thanh H.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Đức M
không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị đã có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ
luật Tố tụng hình sự 2015.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức M, sửa một phần quyết
định về phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2018/HS-ST ngày 08/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1; khoản 2 Điều 46; điểm g
khoản 1 Điều 48; Điều 45; Điều 31 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M 03 (ba) năm cải tạo không giam giữ về tội
Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, thời hạn tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Đức M cho Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh
Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Không áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập của bị cáo Nguyễn Đức M.
2. Về bồi thường dân sự:
2.1. Xác nhận giữa bị cáo Nguyễn Đức M và Công ty cổ phần thương mại
dịch vụ vận tải Q do ông Nguyễn Văn Q1 là người đại diện theo pháp luật đã
thống nhất được với nhau về việc giải quyết trách nhiệm dân sự. Hiện ông
Nguyễn Văn Q1 không đề nghị Tòa án giải quyết về vấn đề dân sự trong vụ án
nữa.
2.2. Xác nhận bị cáo Nguyễn Đức M đã nộp 15.000.000 đồng (mười lăm
triệu đồng) để bồi thường dân sự cho ông Nguyễn Thanh H theo Biên lai thu
tiền số: AA/2015/0003747 ngày 09/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện
Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
3. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Đức M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (04/9/2018)./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng PV 27 Công an tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - TAND h. Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND h.Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS h.Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - Công an h.Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, Tòa hình sự, HCTP, KTNV&THA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Long Kiếm |