vanban.org

Bản án 69/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Vũ Thế M. Về con chung: Giao 02 con chung là Vũ Thị Yến Nhi, sinh ngày 10/10/2011 và Vũ Minh Phát, sinh ngày 05/8/2013 cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 (mười tám) tuổi. Bà H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con là 2.000.000 đồng/t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2018/HNGĐ-ST
Ngày 23-10-2018
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung, cấp dưỡng nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Di.

2. Bà Nguyễn Thị Thủy.

Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Xuân Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyến – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 223/2018/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2018, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2018/QĐHPT-HNST ngày 02 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1992 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: 1612/8/1 đường A, phường 11, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Vũ Thế M, sinh năm: 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: G10 tổ 11 ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn thị H trình bày:

Bà H và ông Vũ Thế M tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn năm 2011 tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Thời gian đầu vợ cH chung sống hạnh phúc nhưng sau này thì phát sinh mâu thuẫn, sống không hợp nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách cả hai không hợp nhau, vợ cH không có tiếng nói chung mặc dù bà cố gắng hàn gắn nhưng không thể hàn gắn được, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Bà H nhận thấy không còn tình cảm gì với ông M nữa nên xin được ly hôn.

- Về con chung: Có 02 con chung là Vũ Thị Yến Nhi, sinh ngày 10/10/2011 và Vũ Minh Phát, sinh ngày 05/8/2013, hai con hiện đang ở với ông M nên bà H yêu cầu giao 02 con cho ông M được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi đủ 18 tuổi và bà H cấp dưỡng tiền nuôi 02 con là 2.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về ý kiến của bị đơn ông Vũ Thế M: Trong quá trình tố tụng ông M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì.

Theo kết quả xác M, ông Vũ Thế M hiện nay đang cư trú tại G10 tổ 11 ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Tại phiên tòa hôm nay, bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khời kiện, ông M vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký tòa án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung: Bà H và ông M chung sống có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà H và ông M là trầm trọng không ai quan tâm đến ai nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà H giao 02 con cho ông M được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi đủ 18 tuổi và bà H cấp dưỡng tiền nuôi 02 con là 2.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung; nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Vũ Thế M đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông M tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thấy: Mâu thuẫn giữa bà H và ông M là có thật, vợ chồng sống không hạnh phúc, không ai còn quan tâm đến ai. Theo biên bản xác minh ngày 09/8/2018, ông M và bà H không còn chung sống với nhau. Xét thấy, cuộc sống chung giữa bà H và ông M không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.

Về con chung: Bà H và ông M có 02 con chung là Vũ Thị Yến Nhi, sinh ngày 10/10/2011 và Vũ Minh Phát, sinh ngày 05/8/2013, hai con hiện đang ở với ông M nên bà H yêu cầu giao 02 con cho ông M được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi đủ 18 tuổi và bà H cấp dưỡng tiền nuôi 02 con là 2.000.000 đồng/tháng. Xét thấy 02 con hiện do ông M là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của bà H, giao con chung cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Bà H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con là 2.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 11/2018.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Bà H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; 147, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Vũ Thế M.

- Về con chung: Giao 02 con chung là Vũ Thị Yến Nhi, sinh ngày 10/10/2011 và Vũ Minh Phát, sinh ngày 05/8/2013 cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 (mười tám) tuổi. Bà H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con là 2.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 11/2018.

Bà Nguyễn Thị H được quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con, nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên nên Tòa án không xem xét giải quyết.

- Án phí: Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 (ba trăm ngàn) án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0002530 ngày 08/6/2018 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, bà H còn phải nộp thêm 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.

Trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án (23/10/2018) đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ