vanban.org

Bản án 69/2018/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G.

Buộc ông Lê Hùng C có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị G số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng); Thời gian thực hiện trả tiền một lần khi án có hiệu lực pháp luật; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị G - Lê Hùng C"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G.
  • Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2018/DSST
Ngày: 26/9/2018
V/v tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Vĩnh Hữu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Châu Tiếp.

Bà Huỳnh Thị Tím.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Lê Quế Thanh, thư ký Tòa án.

Ngày 26 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 111/2018/TLDS-ST ngày 20/6/2018 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2018/QĐXX-ST ngày 14/8/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị G, sinh năm 1957; (có mặt)

Địa chỉ: khu phố M, phường N, thị xã P, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Lê Hùng C, sinh năm 1968; (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp M, xã N, thị xã P, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Nguyễn Thị G trình bày: Ngày 20/6/2016, bà G có cho ông Lê Hùng C vay số tiền 30.000.000 đồng. Khi vay tiền ông C có viết cho bà G một biên nhận mượn tiền, không có thỏa thuận lãi suất, thời gian trả là ngày 20/5/2018. Đến hạn trả tiền nhưng ông C không trả số tiền trên cho bà. Bà G yêu cầu ông C trả số tiền 30.000.000 đồng làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Thị G vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Ông C có nghĩa vụ phải trả số tiền vay 30.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị G. Thời hạn trả tiền một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa, ông Lê Hùng C vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G thì vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân Sự;

Xét trong quá trình thụ lý vụ án, hòa giải và chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Lê Hùng C theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân Sự, ông C vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân Sự xét xử vắng mặt ông C.

Các đương sự không yêu cầu xem xét về thời hạn, thời hiệu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét;

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G yêu cầu ông Lê Hùng C có nghĩa vụ trả số tiền vay là 30.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào lời trình bày và chứng cứ do bà Nguyễn Thị G cung cấp thì vào ngày 20/6/2016, bà G có cho ông Lê Hùng C vay số tiền 30.000.000 đồng. Khi vay tiền ông C có viết cho bà G một biên nhận mượn tiền, không có thỏa thuận lãi suất, thời gian trả là ngày 20/5/2018. Đến hạn trả tiền nhưng ông C không trả số tiền trên cho bà G;

Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Lê Hùng C nhưng ông C vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu này của bà Nguyễn Thị G. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì xem như ông C không có phản đối gì đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị G.

Vì thế, Hội đồng xét xử xét thấy chứng cứ và lời trình bày của bà G là có căn cứ cho nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G về việc yêu cầu ông Lê Hùng C có nghĩa vụ trả số tiền vay 30.000.000 đồng.

Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị G yêu cầu ông Lê Hùng C có nghĩa vụ trả số tiền vay 30.000.000 đồng, thời gian trả tiền làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị G về thời gian trả tiền là có cơ sở, bởi vì ông Lê Hùng C đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền cho bà G nên đã xâm phạm đến quyền lợi của bà G cho nên chấp nhận yêu cầu này của bà G;

Cần buộc ông Lê Hùng C có nghĩa vụ trả số tiền vay 30.000.000 đồng, thời gian trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Hùng C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Bà Nguyễn Thị G không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên hoàn lại bà G án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 463, 465, 466, 357, 468, 688 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các điều 92, 147, 220, 227, 228, 233 Bộ luật Tố tụng Dân Sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật thi hành án Dân Sự.

Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G.

Buộc ông Lê Hùng C có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị G số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng);

Thời gian thực hiện trả tiền một lần khi án có hiệu lực pháp luật;

Kể từ ngày bà Nguyễn Thị G có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Lê Hùng C chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân Sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí: Ông Lê Hùng C phải chịu 1.500.000 đồng (một triệu, năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị G không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên hoàn lại án phí cho bà G số tiền tạm ứng án phí mà bà G đã nộp 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001631 ngày 20/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với bị đơn Lê Hùng C vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ