- Tranh chấp gì? án hình sự — "bùi Văn B - chông người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? 1, Tuyên bố bị cáo Bùi Văn B phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 109/2015/QH13 Về việc thi hành Bộ Luật Hình sự; Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2017/HSST Ngày 22 tháng 6 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Mạnh Tiến
2. Bà Nguyễn Thị Biên
Thƣ ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Tống Lan Hương – Cán bộ Toà án nhân dân thành phố B
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B: Ông Vi Đức Thứ - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 6 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 69/2017/HSST ngày 18 tháng 5 năm 2017 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Bùi Văn B, sinh năm 197X;
- Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ dân phố NG, phường XG thành phố B;
- Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không;
- Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 05/12;
- Họ tên bố: Bùi Văn K, sinh năm 1931(Đã chết);
- Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1933;
- Gia đình có 10 anh chị em, bị cáo là con thứ 08;
- Vợ: Chưa có;
- Con: Phan Văn D, sinh năm 201X;
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân:
+ Tại bản án số 62/ HS-ST ngày 12/6/1999, Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt B 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, phạt bổ sung 1500.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt ngày 30/9/2001;
+ Tại bản án số 75/ST-HS ngày 23/5/2003, Tòa án nhân dân tỉnh L xử phạt B 15 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 30/9/2013;
+ Tại quyết định số 62/QĐ/XPVPHC ngày 20/3/2002, Công an thị xã B xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc (mức phạt là 1000.000 đồng, nộp phạt ngày 04/9/2002).
- Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2017 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt)
* Nguyên đơn dân sự: Công an phường XG, thành phố B
Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Vi Văn T, chức vụ: Phó Trưởng Công an phường XG (Có mặt)
NHẬN THẤY
Bị cáo Bùi Văn B bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Ngày 19/01/2017, Bùi Văn B sinh năm 1973 trú tại tổ dân phố NG, phường XG, thành phố B, tỉnh B mua ma túy tổng hợp dạng đá của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bến phà CL, phường TP, thành phố B đem về nhà để sử dụng. Khoảng 18 giờ ngày 21/01/2017, sau khi sử dụng ma túy, Bùi Văn B bị ảo giác là có người đuổi đánh ở phía sau nên B đã chạy vào nhà anh Nguyễn Văn C sinh năm 1974 trú tại tổ dân phố NG, phường XG, thành phố B. Khi B trèo lên tầng 2 thì bị anh C và chị H (là vợ anh C) phát hiện yêu cầu B ra ngoài thì B đi xuống tầng 1. Khi ra đến cửa, B quay vào phòng ngủ của vợ chồng anh C rồi chốt cửa, kéo giường ngủ và một số đồ vật trong phòng để chèn cửa phòng. Thấy vậy, anh C trình báo Công an phường XG đến giải quyết nhưng B không chấp hành mà có hành vi đập phá làm hư hỏng tài sản trong phòng. Đến khoảng 00 giờ ngày 22/01/2017, Cơ quan Công an đã khống chế đưa B về trụ sở Công an phường XG để làm việc.
Khoảng 14 giờ cùng ngày 22/01/2017, thượng úy Vi Văn T là Phó trưởng Công an phường XG làm việc với B tại phòng tiếp dân tầng 1, trụ sở Uỷ ban nhân dân phường XG. Trong khi đang làm việc, B lấy chiếc xuyến pha trà màu trắng đang để trên bàn giơ lên nói “tao đập chết mày” đe dọa đánh thượng úy Vi Văn T. Thượng úy T tránh ra thì B cầm xuyến pha trà bỏ chạy ra ngoài. B bỏ lại xuyến pha trà ở hành lang rồi chạy lên tầng 2 khu nhà ở của cán bộ Công an phường XG. B đi vào phòng ở chốt cửa, kéo giường, chèn cửa ra vào và cửa sổ để ngăn cản người bên ngoài vào phòng. Lúc này cán bộ công an phường XG gồm thượng úy Đặng Ngọc T1, trung úy Đặng Văn H1 và trung úy Đồng Tiến D mặc trang phục công an nhân dân tiếp cận vận động thuyết phục, yêu cầu Bùi Văn B ra khỏi phòng nhưng B không chấp hành mà lấy 01 con dao loại dao phóng lợn có sẵn trong phòng đe dọa cán bộ công an và đập phá đồ đạc trong phòng. B còn lấy 01 con dao gấp có sẵn trong phòng đút vào túi quần.
Đến 15 giờ 50 phút cùng ngày 22/01/2017, Công an thành phố B đã khống chế, bắt quả tang đối với Bùi Văn B. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bao gồm: 01 con dao gấp có chuôi bằng nhựa màu đen, lưỡi làm bằng kim loại màu trắng sắc nhọn, kích thước (38x4)cm; 01 con dao loại dao phóng lợn, chuôi bằng gỗ, phía ngoài quấn băng dính màu đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng, sắc nhọn, kích thước (55x6,5)cm. Ngoài ra lực lượng công an còn tạm giữ 01 chiếc xuyến pha trà màu trắng (bút lục 50); 01 giấy chứng minh; 01 giấy phép lái xe cùng mang tên Bùi Văn B; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng (được niêm phong); 01 chiếc đồng hồ mặt sau có ký hiệu AOLIX và số tiền 2.672.000 đồng (bút lục 96).
Cùng ngày 22/01/2017, Cơ quan điều tra thu giữ mẫu máu, mẫu nước tiểu của Bùi Văn B để trưng cầu giám định.
Tại Kết luận giám định hóa pháp số 57/56/59/17/HP ngày 07/02/2017, Viện Pháp y quốc gia kết luận: Trong mẫu máu của Bùi Văn B do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B gửi tới giám định ngày 23/01/2017 có tìm thấy Methamphetamin.
Tại bản kết luận giám định số 421/C54 (TT2) ngày 17/02/2017, Viện khoa học hình sự- Bộ Công an kết luận: Có tìm thấy Methamphetamin trong mẫu nước tiểu gửi giám định. Methamphetamin nằm trong danh mục II, số thứ tự 67, Nghị định số 82/2013/NĐ- CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Ngày 22/01/2017, Cơ quan điều tra khám nghiệm hiện trường tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường XG. Kết quả như sau: Trong phòng ở của cán bộ công an phường XG có 03 chiếc giường được đánh số thứ tự (1), (2), (3). Trong đó, giường số (2) bị lật nghiêng theo thành giường, trên giường khuyết một mảnh dát giường kích thước (0,6x2)m; giường số (3) bị lật ngửa, 02 mảnh dát giường bị bật rời khỏi vị trí cố định; 01 chiếc bàn gỗ có kích thước (1,85x0,55x0,85)m, trên mặt bàn có nhiều quần áo đồ đạc lộn xộn; 01 tủ sắt có kích thước (1,83x1x0,45)m, các cánh tủ ở trạng thái mở; trên mặt sàn phòng có các thanh ngang của giường gỗ, chăn chiếu và quần áo trong trạng thái lộn xộn.
Ngày 22/01/2017, Cơ quan điều tra đã khám nghiệm hiện trường và lập biên bản kiểm tra tài sản bị hư hỏng tại gia đình anh Nguyễn Văn C, kết quả như sau:
- 01 giường gỗ kích thước (1,6x2)m, giường bị lật ngửa, dát giường rời khỏi vị trí cố định, cánh thành giường bật rời khỏi vị trí cố định;
- 01 bộ khung màn bằng inox mầu trắng gồm 02 thanh ống hộp vuông, 03 thanh ống tròn đều bị cong, bẹp méo.
- 01 chiếc loa cây kenwood còn sử dụng được, bên ngoài xây sát biến dạng vỏ, kích thước (6x3)cm và cạnh có vết xước dài 20cm;
- 01 chiếc loa cây kenwood còn sử dụng được, mặt ngoài cạnh loa có vết xước dài 20cm;
- 02 chiếc loa con (loa tép) mầu đen bị hỏng hoàn toàn;
- 02 chiếc loa con (loa tép) mầu đen còn sử dụng được;
- 01 chiếc đầu đĩa vi tính Ariang bị biến dạng, khung đĩa bị vỡ, vi mạch gẫy, nắp vỏ ngoài bật lên, bị hỏng main, không sử dụng được (bút lục 61, 62- 80, 82).
Cơ quan điều tra đã tạm giữ những đồ vật tài sản nêu trên và trưng cầu định giá tài sản. Tại kết luận định giá tài sản số 06/KL- HĐĐG ngày 24/01/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
* Thay mới:
- 01 chiếc đầu đĩa nhãn hiệu Ariang có giá trị là 700.000 đồng;
- 02 chiếc loa con màu đen có giá trị là 200.000 đồng;
- 01 bộ khung màn bằng Inox có giá trị là 100.000 đồng;
* Sửa chữa:
- 02 chiếc loa cây nhãn hiệu Kenwood có giá trị là 800.000 đồng;
- 01 chiếc giường gỗ có giá trị là 100.000 đồng (bút lục 30).
Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng là 1.900.000 đồng.
Quá trình điều tra, anh Bùi Văn T là em Bùi Văn B đã đứng ra bồi thường cho anh Nguyễn Văn C số tiền 2.500.000 đồng. Ngày 05/3/2017, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh C số tài sản bị hư hỏng, đến nay anh C không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Đối với hành vi của Bùi Văn B làm hư hỏng tài sản tại Công an phương XG nhưng gây thiệt hại không lớn nên Công an phường XG không yêu cầu xử lý đối với B về hành vi này. Ngày 19/02/2017, Cơ quan điều tra đã trả lại Công an phường XG 01 chiếc xuyến pha trà màu trắng. Đối với 02 con dao được thu giữ khi bắt quả tang Bùi Văn B qua điều tra xác định là những đồ vật mà cán bộ công an phường XG sử dụng trong lao động, sinh hoạt. Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng 02 con dao nói trên.
Ngày 19/4/2017, Công an thành phố B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Văn B về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác” (phạt tiền 4.250.000 đồng).
Đối với người đàn ông đã bán ma túy tổng hợp dạng đá cho Bùi Văn B do B không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của người đó nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh.
Quá trình điều tra, Bùi Văn B đã khai nhận hành vi phạm tội.
Từ những tình tiết nêu trên, Cáo trạng số 75/KSĐT ngày 17/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố Bùi Văn B về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 257 - Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Bùi Văn B đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu và trình bày: Gia đình bị cáo có bố và anh trai được tặng thưởng huân, huy chương nhưng bị cáo không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho Hội đồng xét xử; điều kiện kinh tế hiện nay của gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo còn mẹ già và con nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn dân sự là anh Vi Văn T – cán bộ Công an phường XG trình bày: Rạng sáng ngày 22/01/2017, Công an phường XG nhận được tin báo của anh Nguyễn Văn C về việc 01 đối tượng có biểu hiện ngáo đá đang cố thủ trong phòng ngủ của vợ chồng anh và có hành vi đập phá đồ đạc bên trong. Công an phường XG đã phối hợp với Công an thành phố B khống chế đưa đối tượng Bùi Văn B về trụ sở Công an phường làm việc. Khoảng 14 giờ cùng ngày, khi anh đang làm việc với B tại phòng tiếp dân tầng 1 trụ sở UBND phường, B có hành vi cầm xuyến pha trà bằng tay phải đe doạ đánh anh. Sau đó B bỏ lại chiếc xuyến và chạy ra hành lang lên phòng ở trên tầng 2 của cán bộ chiến sỹ Công an phường. Thấy anh và mấy chiến sỹ Công an phường đuổi theo nên B đã chốt khoá cửa bên trong, dùng giường ngủ của cán bộ chiến sỹ chèn cửa, dùng 02 con dao lấy được trong phòng chống đối lại lực lượng công an và cố thủ trong phòng. Sau đó B tiếp tục có hành vi đập phá đồ đạc bên trong phòng. Đến khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, Công an phường phối hợp với Công an thành phố đã khống chế và bắt quả tang đối tượng B. Do tài sản của Công an phường bị thiệt hại không đáng kể nên Công an phường từ chối định giá tài sản bị thiệt hại và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
1, Tuyên bố bị cáo Bùi Văn B phạm tội “Chống người thi hành công vụ”
2, Áp dụng khoản 1 Điều 257; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 - Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn B từ 20 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/01/2017.
3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Trả lại Công an phường XG: 01 con dao gấp có chuôi bằng nhựa màu đen, lưỡi làm bằng kim loại màu trắng sắc nhọn, kích thước (38x4)cm và 01 con dao loại dao phóng lợn, chuôi bằng gỗ, phía ngoài quấn băng dính màu đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng, sắc nhọn, kích thước (55x6,5)cm.
- Trả lại bị cáo Bùi Văn B: 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe cùng mang tên Bùi Văn B; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng; 01 chiếc đồng hồ mặt sau có ký hiệu AOLIX và số tiền 2.672.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn dân sự, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và kết quả giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 21/01/2017, do bị ảo giác sau khi sử dụng ma túy tổng hợp dạng đá, Bùi Văn B đã có hành vi đột nhập anh Nguyễn Văn C sinh năm 1974 trú tại tổ dân phố NG, phường XG, thành phố B đập phá gây hư hỏng tài sản với tổng giá trị là 1.900.000 đồng và bị lực lượng công an khống chế dẫn giải đến làm việc tại Công an phường XG, thành phố B. Khoảng 14 giờ ngày 22/01/2017, trong khi làm với thượng úy Vi Văn T - Phó trưởng Công an phường XG, B có hành vi cầm xuyến pha trà đe dọa đánh thượng úy Vi Văn T. Sau đó, B chạy đến phòng ở của cán bộ Công an phường XG dùng dao đe dọa, chống đối không chấp hành yêu cầu làm việc của lực lượng công an thì bị Công an thành phố B bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của Bùi Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại khoản 1 Điều 257 - Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 75/KSĐT ngày 17/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo theo khoản, điều luật như trên là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét về tính chất của vụ án thì thấy: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động B thường đúng đắn của cơ quan nhà nước được pháp luật bảo vệ, làm giảm hiệu lực hoạt động của cơ quan nhà nước và gây mất ổn định trật tự an ninh tại địa phương. Do vậy cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.
Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu:
+ Tại bản án số 62/ HS-ST ngày 12/6/1999, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, phạt bổ sung 1.500.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt ngày 30/9/2001.
+ Tại quyết định số 62/QĐ/XPVPHC ngày 20/3/2002, bị cáo bị Công an thị xã B xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc với mức phạt là 1.000.000 đồng (nộp phạt ngày 04/9/2002).
Đối với bản án số 75/ST-HS ngày 23/5/2003, bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 15 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 30/9/2013. Theo quy định tại khoản 2 Điều 64 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì thời hạn đương nhiên được xoá án tích đối với bị cáo là 05 năm. Do có sự thay đổi về pháp luật, theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự 2015 thì thời hạn đương nhiên được xoá án tích với bị cáo là 03 năm. Áp dụng Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 và Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội, theo đó mặc dù Bộ luật hình sự 2015 chưa có hiệu lực nhưng được áp dụng các quy định có lợi cho bị cáo thì thấy việc Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B xác định bản án số 75/ST-HS ngày 23/5/2003 là nhân thân thay vì là tiền án của bị cáo là phù hợp.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: tại phiên toà, bị cáo khai có bố và anh trai được tặng thưởng huân, huy chương nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ để xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; trước cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 - Bộ luật hình sự, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 48 - Bộ luật hình sự.
Về vật chứng của vụ án:
- 01 con dao gấp có chuôi bằng nhựa màu đen, lưỡi làm bằng kim loại màu trắng sắc nhọn, kích thước (38x4)cm và 01 con dao loại dao phóng lợn, chuôi bằng gỗ, phía ngoài quấn băng dính màu đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng, sắc nhọn, kích thước (55x6,5)cm là vật dụng dùng trong sinh hoạt của cán bộ chiến sỹ Công an phường XG nên cần trả lại cho Công an phường XG theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
- 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe cùng mang tên Bùi Văn B; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng; 01 chiếc đồng hồ mặt sau có ký hiệu AOLIX và số tiền 2.672.000 đồng là tài sản của Bùi Văn B không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với hành vi Bùi Văn B “Sử dụng trái phép chất ma túy” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”: Ngày 19/4/2017, Công an thành phố B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt cho cả hai hành vi là 4.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy tổng hợp dạng đá cho Bùi Văn B do B không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của người đó nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1, Tuyên bố bị cáo Bùi Văn B phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
2, Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 257; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 - Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn B 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/01/2017.
3, Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại Công an phường XG, thành phố B:
+ 01 con dao gấp có chuôi bằng nhựa màu đen, lưỡi làm bằng kim loại màu trắng sắc nhọn, kích thước (38x4)cm;
+ 01 con dao loại dao phóng lợn, chuôi bằng gỗ, phía ngoài quấn băng dính màu đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng, sắc nhọn, kích thước (55x6,5)cm.
- Trả lại bị cáo Bùi Văn B:
+ 01 giấy chứng minh nhân dân số 121265273 do Công an tỉnh B cấp ngày 06/9/2016 mang tên Bùi Văn B, sinh năm 1970;
+ 01 giấy phép lái xe số 240142001019 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 03/12/2014 mang tên Bùi Văn B, sinh năm 1970;
+ 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng không kiểm tra chất lượng được niêm phong bằng 01 phong bì thư có dấu giáp lai theo quy định;
+ 01 chiếc đồng hồ mặt sau có ký hiệu AOLIX;
+ Số tiền 2.672.000 đồng
Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng theo Lệnh xuất kho vật chứng số 64/KSĐT ngày 18/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/6/2017).
4, Về án phí, quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 99, Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2017 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, nguyên đơn dân sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./
T/M - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh B; - VKSND TP B; - Công an TP B; - Chi cục THADS TP B; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP. | ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa Đinh Thị Vân Anh |