- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Hoàng V tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2017/HSST Ngày 21-11-2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải - Cán bộ hƣu trí thị trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ và bà Nguyễn Thị Hạnh Thu - Phó Chủ tich Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Tứ Kỳ.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Mai Văn Việt - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2017, tại Nhà văn hóa khu An Nhân Đông, thị trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 65/2017/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Bùi Hoàng V, sinh năm 1982; trú tại: Khu 4, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng; trình độ văn hoá: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Bùi Đức T và bà Trần Thị H;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 10/5/2017, bị Công an huyện Ninh Giang xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép 0,0730 gam Methamphetamine với hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/7/2017, sau chuyển tạm giam tại trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay (có mặt tại phiên tòa).
NHẬN THẤY
Bị cáo Bùi Hoàng V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:
Bùi Hoàng V là ngƣời nghiện ma túy nên khoảng 10 giờ ngày 28/7/2017, V đi nhờ xe máy của một ngƣời đàn ông (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) từ thị trấn Ninh Giang sang xã Văn Tố, huyện Tứ Kỳ để mua ma túy. Khi đến xã Văn Tố, V đi bộ vào thôn Đông Lâm và gặp một ngƣời thanh niên tên Toàn (không biết tuổi, địa chỉ cụ thể), V hỏi mua ma túy và ngƣời này đồng ý bán cho V một túi nilon kích thƣớc (3x3,5cm), bên trong chứa các tinh thể màu trắng. V cầm gói ma túy vừa mua đƣợc trong tay và đi bộ ra đƣờng 391 để về nhà. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi V đang đi bộ tại trục đƣờng liên thôn thuộc địa phận thôn Đông Lâm, xã Văn Tố thì bị Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện, bắt quả tang, do hoảng sợ, V đã vứt gói ma túy xuống đƣờng. Thu giữ tại vị trí V bị bắt một túi nilon kích thƣớc (3x3,5)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; thu giữ tại túi quần phải phía trƣớc V đang mặc một ống hút nhựa màu vàng cam dài 15cm, một ống hút nhựa màu hồng dài 11cm, 01 đầu đốt bằng kim loại màu đồng dài 4cm.
Tại bản kết luận giám định số 288/KLGĐ ngày 01/8/2017, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất tinh thể màu trắng ghi thu của Bùi Hoàng V gửi đến giám định có trọng lƣợng là 1,917gam là loại Methamphetamine. Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 60/VKS - HS, ngày 16/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Bùi Hoàng V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Bùi Hoàng V đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ cáo trạng mà VKSND huyện Tứ Kỳ đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm nhƣ đã truy tố tại bản cáo trạng. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng V phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng khoản 1 Điều 194, Điều 33, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Bùi Hoàng V từ 15 đến 18 tháng tù; về hình phạt bổ sung: không áp dụng; về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu cho tiêu hủy 1,797 gam Methamphetamine; tịch thu cho tiêu hủy một ống hút nhựa màu vàng, một ống hút nhựa màu hồng và một đầu đốt bằng kim loại màu đồng; về án phí: buộc bị cáo phải chịu án 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
Tại phiên toà, bị cáo Bùi Hoàng V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: khoảng 13 giờ ngày 28/7/2017, tại đƣờng liên thôn thuộc địa phận thôn Đông Lâm, xã Văn Tố, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, Bùi Hoàng V có hành vi cất giấu trái phép trong tay một gói ma túy có trọng lƣợng 1,917 gam, là loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo Bùi Hoàng V là ngƣời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc việc cất giấu trái phép chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Tổng trọng lƣợng Methamphetamine mà bị cáo V tàng trữ là 1,917 gam nên hành vi của bị cáo V đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ trên là hoàn toàn có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo V là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma tuý của Nhà nƣớc ở tất cả các khâu nên cần phải xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa loại tội phạm này hiện nay nói chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về nhân thân: Bị cáo có một tiền sự: vào ngày 10/5/2017, bị Công an huyện Ninh Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng; ngoài ra, vào ngày 18/3/2002, bị UBND tỉnh Hải Dƣơng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm nhân đạo xã hội tỉnh Hải Dƣơng, thời hạn 12 tháng, bị cáo chấp hành xong ngày 22/3/2003; ngày 20/9/2003, bị Công an huyện Ninh Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với hình thức phạt tiền 5.000.000 đồng (bị cáo không có khả năng nộp tiền phạt); ngày 03/5/2001, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản trộm cắp là 1.200.000 đồng), bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/8/2001; ngày 28/10/2003, tiếp tục bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang xử phạt 39 tháng tù về tội “vận chuyển trái phép chất ma túy”; ngày 14/8/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt 18 tháng tù về tội “cố ý gây thƣơng tích”, tổng hợp với hình phạt chƣa chấp hành của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang về tội “vận chuyển trái phép chất ma túy”, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 20 tháng 16 ngày tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2008. Đây không phải là những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhƣng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, HĐXX sẽ xem xét khi quyết định hình phạt.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng nhƣ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải bắt bị cáo V cách ly đời sống xã hội một thời gian để Nhà nƣớc giáo dục bị cáo trở thành ngƣời công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự 1999 là “phạt tù từ hai năm đến bảy năm”, nhƣng mức hình phạt của tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là “phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV, đây là quy định có lợi cho ngƣời phạm tội nên HĐXX sẽ áp dụng để quyết định mức hình phạt cho bị cáo V.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo V là đối tƣợng nghiện ma tuý, không nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: số ma túy mà Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng hoàn lại sau giám định (1,797 gam) là vật nhà nƣớc cấm lƣu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy; một ống hút nhựa màu vàng, một ống hút nhựa màu hồng và một đầu đốt bằng kim loại màu đồng không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy;
Đối với ngƣời thanh niên tên Toàn bán ma túy cho V nhƣng Cơ quan điều tra chƣa làm rõ đƣợc nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: bị cáo Bùi Hoàng V phạm tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Bùi Hoàng V 18 (mƣời tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giữ, 28/7/2017.
2. Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu cho tiêu hủy 1,797 gam Methamphetamine; tịch thu cho tiêu hủy một ống hút nhựa màu vàng, một ống hút nhựa màu hồng và một đầu đốt bằng kim loại màu đồng (đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/10/2017 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ).
3. Về án phí: áp dụng khoản 1 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Hoàng V phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tứ Kỳ; - CA huyện Tứ Kỳ; - THADS huyện Tứ Kỳ; - Trại tạm giam Kim Chi-CA tỉnh Hải Dƣơng; - Sở Tƣ pháp Hải Dƣơng; - Bị cáo; - Lƣu Toà, lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đoàn Thị Hƣơng Nhu |