vanban.org

Bản án 69/2017/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc anh Bạch Nhựt T trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T số T là 51.

VKSND TP. Mỹ Tho, tỉnh T Giang; Các đương sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Buộc anh Bạch Nhựt T trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T số T là 51.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TP. MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2017/DSST
Ngày: 10-7-2017
V/v tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Ái Đoan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Kiệt.

2. Bà Nguyễn Thị Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Kim Hằng là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh T Giang.

Ngày 10 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh T Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 124/2017/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2017 về tranh chấp “Hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2017/QĐXX-ST ngày 23 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T.

Địa chỉ: Tầng 1 – 7 tòa nhà T, số 72, phố T, phường Đ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hiền T – Trưởng Phòng thu hồi nợ pháp lý kiêm quản lý pháp chế cho Phòng an ninh và phòng kiểm soát gian lận – Trung tâm thu hồi nợ - Khối tín dụng tiêu dùng – Ngân hàng TMCP Việt Nam T theo Văn bản uỷ quyền số 18/2017/UQ-CT ngày 13/3/2017 của Chủ tịch hội đồng quản trị - Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: anh Trần Thái V, sinh năm 1988, Trú tại: G1-55 đường số 7, khu dân cư P, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền số 46/2017/UQ-GĐK-TDTD ngày 25/5/2017).

2. Bị đơn: Anh Bạch Nhựt T, sinh năm 1981.

Địa chỉ: 71/5 LTHG, Phường X, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Võ Thị Thúy A, sinh năm 1987.

Địa chỉ: 68/3 LTHG, Phường X, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

(Có mặt anh V; anh T và chị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 7 tháng 3 năm 2017 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T(gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện anh Bạch Nhựt T yêu cầu anh T trả số nợ vay tới hạn là 31.936.000 đồng (gồm tiền gốc là 18.725.538 đồng và tiền lãi là 13.210.417 đồng), trả khoản nợ gốc chưa tới hạn là 19.846.000, trả làm 01 lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Nguyên vào ngày 25/11/2014 Ngân hàng và anh Bạch Nhựt T ký đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20141130-114007-0004, anh T vay với số T là 47.250.000 đồng, lãi suất 2,92%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận anh T có trách nhiệm thanh toán số tiền 76.931.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm trong 36 tháng, 35 tháng đầu mỗi tháng trả 2.138.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.101.000 đồng. Thanh toán vào ngày 02 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 02/01/2015. Sau khi vay anh T có trả được 10 lần với số tiền là 21.514.000 đồng. Kể từ ngày 30/01/2016 anh T không trả cho Ngân hàng bất cứ khoản tiền nào.  Tại bản tự khai ngày 22 tháng 6 năm 2017 bị đơn anh Bạch Nhựt T trình bày:

Vào ngày 25/11/2014 anh T có vay của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T số tiền là 47.250.000 đồng, lãi suất 2,92%, tổng số tiền thanh toán là 76.931.000 đồng vốn và lãi, thanh toán trong hạn 36 tháng, bắt đầu từ ngày 02/10/2015, 35 tháng đầu mỗi tháng trả 2.138.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.101.000 dồng. Sau khi vay anh T có trả được 9 lần được 21.514.000 đồng. Nay Ngân hàng kiện yêu cầu anh T trả số nợ tới hạn là 31.936.000 đồng và nợ gốc chưa tới hạn là 19.846.663 đồng thì anh T đồng ý. Anh T xin trả góp mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi trả xong số tiền 51.782.663 đồng. Đây là nợ riêng của anh T.  Tại bản tự khai ngày 22 tháng 6 năm 2017 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị Thúy A trình bày:

Chị có thay mặt chồng chị là anh T trả cho Ngân hàng số tiền là 21.514.000 đồng. Nay Ngân hàng kiện anh T thì chị không có ý kiến gì. Đây là nợ riêng của anh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T căn cứ hợp đồng tín dụng số 20141130-114007-0004 ngày 25/11/2014 để khởi kiện yêu cầu anh Bạch Nhựt T trả số tiền gồm: tiền nợ tới hạn là 31.936.000 đồng và nợ chưa tới hạn là 19.846.663 đồng. Tổng cộng là 51.782.663 đồng. Đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự. Hình thức và nội dung đơn khởi kiện đúng quy định tại Điều 189 của Bộ luật tố tụng dân sự và theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Anh T và chị Trang có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh T và chị Trang theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung: Nay anh T thống nhất theo số nợ gốc và nợ lãi anh T còn nợ lại Ngân hàng theo lời trình bày của đại diện Ngân hàng là 51.782.663 đồng (gồm T nợ tới hạn là 31.963.000 đồng, trong đó T gốc là 18.725.583 đồng, T lãi 13.210.417 đồng và T nợ gốc chưa tới hạn là 19.846.663 đồng). Lời thừa nhận của anh T phù hợp với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Hợp đồng vay tài sản là T giữa Ngân hàng Thịnh Vượng với anh T là hợp đồng có kỳ hạn, mỗi tháng anh T đều phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán vào ngày 02 hàng tháng nhưng anh T chỉ thanh toán được 9 lần rồi ngưng nên anh T không thực hiện đúng nghĩa vụ của bên vay tài sản trả đủ T khi đến hạn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh T trả số tiền vốn và lãi đến hạn và tiền nợ gốc chưa đến hạn với số tiền là 51.782.663 đồng là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Anh Việt yêu cầu anh T trả một lần hết số T 51.782.663 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật, anh T yêu cầu trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng. Về phương thức trả, thời gian trả hai bên đương sự không thỏa thuận được, do đó hai bên đương sự thỏa thuận với nhau về phương thức trả và thời gian trả khi đến giai đoạn thi hành án. [3]. Về án phí dân sự sơ thẩm anh T phải chịu theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 189, Khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T.

- Buộc anh Bạch Nhựt T trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T số T là 51.782.663 đồng (Năm mươi mốt triệu bảy trăm tám mươi hai ngàn sáu trăm sáu mươi ba đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người có nghĩa vụ thi hành án chậm thi hành án, thì hàng tháng còn phải chịu số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số T chậm thi hành án. 2/ Về án phí: Anh Bạch Nhựt T phải chịu là 2.589.133 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T số tiền 1.295.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 31754 ngày 19/4/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh T Giang. 3/ Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ