vanban.org

Bản án 685/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Nữ N:

1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Nữ N được ly hôn với ông Đinh Đức A. 2 Về con chung: có 01 con chung tên Đinh Nhã H sinh ngày 05/02/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa bà Phạm Nữ N và ông Đinh Đức A"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Nữ N:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

[
Bản án số: 685/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24/9/2025
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Chu Mạnh Tường

2/ Ông Phạm Bá Chương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Cao Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2920/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2410/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Phạm Nữ N - sinh năm 1994

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 11/5/2023

Thường trú: số E đường G, Khu phố A, phường L (trước ngày 01/7/2025 là Khu phố D, phường P, thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn yêu cầu vắng mặt)

2/ Bị đơn: Ông Đinh Đức A - sinh năm 1988

Chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx do Công an tỉnh H cấp ngày 02/5/2018

Tạm trú: số C đường G, Khu phố B, phường L (trước ngày 01/7/2025 là Khu phố H, phường P, thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời trình bày của bà Phạm Nữ N trong quá trình tham gia tố tụng:

Bà và ông Đinh Đức A tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2021, có tổ chức hỏi cưới, đăng ký kết hôn năm 2021 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T (nay là phường L), Thành phố Hồ Chí Minh. Khi bắt đầu chung sống, ông bà đã phát sinh mâu thuẫn về vấn đề tài chính, ông A không chịu đi làm nhưng lại vay nợ với lãi cao, vay tiền trên các app cho vay, cầm cố tài sản trong gia đình, bà đã nhiều lần trả nợ và chuộc tài sản về, lần cuối cùng bà không chuộc nữa thì mất luôn tài sản. Bà và gia đình đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông A không thay đổi, không chu cấp nuôi con. Mâu thuẫn gay gắt dẫn đến vợ chồng đánh nhau và ông bà đã ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, ông A cũng không thay đổi, thỉnh thoảng còn có những lời lẽ xúc phạm bà. Nay do không hàn gắn được mâu thuẫn, bà đã suy nghĩ kỹ và xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông A.

- Về con chung: ông bà có 01 con chung tên Đinh Nhã H sinh ngày 05/02/2022. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Ngày 30/7/2025 bà Phạm Nữ N có đơn yêu cầu vắng mặt trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án.

Ông Đinh Đức A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và giấy triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo kết quả xác minh của Công an phường P thì ông Đinh Đức A cư trú tại phường P, thành phố T (nay là phường L), Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Phạm Nữ N có đơn yêu cầu vắng mặt, ông Đinh Đức A đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Xét yêu cầu của các đương sự:

Về hôn nhân:

Bà Phạm Nữ N và ông Đinh Đức A tự nguyện kết hôn và chung sống với nhau theo giấy chứng nhận kết hôn số 65/2021 do Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T (nay là phường L), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/11/2021. Do đó, hôn nhân của ông bà là hợp pháp và được pháp luật công nhận. Nay bà N nộp đơn yêu cầu ly hôn với ông A, trong quá trình giải quyết vụ án bà N kiên quyết yêu cầu ly hôn.

Xét yêu cầu ly hôn của bà N: Bà N và ông A kết hôn hợp pháp, theo bà N trình bày mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do ông A không chịu đi làm nhưng lại vay nợ với lãi cao, vay tiền trên các app cho vay, cầm cố tài sản trong gia đình, bà đã nhiều lần trả nợ và chuộc tài sản về, lần cuối cùng bà không chuộc nữa thì mất luôn tài sản. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của bà N, ông A tại Ủy ban nhân dân phường P và được phúc đáp tại văn bản số 362/UBND ngày 05/6/2025 với nội dung: Ủy ban nhân dân phường chưa ghi nhận thông tin trình báo về bạo lực gia đình cũng như chưa giải quyết bất kỳ vụ việc nào liên quan đến mâu thuẫn hay bạo lực gia đình của ông A và bà N. Xét thấy, để duy trì cuộc sống gia đình hạnh phúc thì cả hai vợ chồng cần có sự tôn trọng, thương yêu, chia sẻ với nhau, cả hai đều cùng có mong muốn xây dựng gia đình chung sống cùng nhau. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông A vắng mặt không đến Tòa nên không ghi nhận được ý kiến của ông A. Trong khi đó, bà N kiên quyết yêu cầu ly hôn. Như vậy, có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông A đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà N là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ giấy khai sinh số 63/2022 do Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T (nay là phường L), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/02/2022 cho Đinh Nhã H, có căn cứ xác định bà N và ông A có 01 con chung tên Đinh Nhã H sinh ngày 05/02/2022.

Xét yêu cầu của bà N về việc nuôi dưỡng con chung: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho ông A về yêu cầu được nuôi dưỡng con chung của bà N nhưng ông A không có ý kiến. Xét hiện nay bà N đang trực tiếp nuôi con, trẻ Đinh Nhã H mới được 3,5 tuổi nên cần sự chăm sóc của mẹ nên yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn của bà N là có cơ sở chấp nhận, giao con chung tên Đinh Nhã H sinh ngày 05/02/2022 cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà N xác định không có.

Về án phí: Bà N phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 69, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Căn cứ Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Nữ N:

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Nữ N được ly hôn với ông Đinh Đức A.

1.2 Về con chung: có 01 con chung tên Đinh Nhã H sinh ngày 05/02/2022.

Bà Phạm Nữ N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Đinh Nhã H sinh ngày 05/02/2022. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Nữ N không yêu cầu ông Đinh Đức A cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

1.3 Về tài sản chung: Bà Phạm Nữ N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

1.4 Về nợ chung: Bà Phạm Nữ N xác định không có.

2/ Về án phí: Bà Phạm Nữ N phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Phạm Nữ N đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0067905 ngày 10/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phạm Nữ N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ