vanban.org

Bản án 680/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 22/12/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/12/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Văn Đ.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Văn Đ. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Đ phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 680/2025/HS-PT
Ngày: 22 -12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Thẩm phán:

Bà Đinh Thị Quý Chi

Ông Bùi Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên Tòa: Ông Hà Văn Chuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 456/2025/HSPT ngày 29 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Trần Văn Đ.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Văn Đ, sinh ngày 06/4/1999, tại tỉnh Hậu Giang; tên gọi khác: không; nơi đăng ký thường trú tại: ấp F, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp F, phường L, tỉnh Cần Thơ); địa chỉ tạm trú: tổ A, khu E, phường P, tỉnh Đồng Nai; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Làm thuê; tiền án, tiền sự: không; con ông Trần Văn C, sinh năm 1973 và bà Phan Thị H, sinh năm 1974; bị cáo chưa có vợ con. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 27/11/2024, Đ cùng anh L, anh Trần Văn V và một số người khác tổ chức ăn, uống bia (loại bia lon Sài Gòn X) tại nhà riêng của anh V. Đến khoảng gần 14 giờ cùng ngày, cả nhóm tiếp tục rủ nhau đến quán K, địa chỉ: Khu phố A, phường M uống bia, ca hát. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô Biển số 93P2 – 432.21 chở anh L đi về căn nhà thuê của công trình thuộc tổ D, khu phố B, phường M. Trên đường đi về, Đ điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường liên phường, hướng phường M đi phường H, thị xã C. Khi đến đoạn đường cong về bên phải thuộc tổ A, khu phố B, phường M, thị xã C, do đã sử dụng chất có nồng độ cồn nên không làm chủ tay lái, Đ điều khiển xe mô tô chạy sang phần đường bên trái, rồi tự té ngã dẫn đến tai nạn giao thông, làm anh L ngã xuống nền đường nhựa. Sau tai nạn giao thông, Đoàn dựng xe mô tô vào lề đường, anh L chết tại hiện trường. Trần Văn Đ không có Giấy phép lái xe môtô theo quy định. Kết quả xét nghiệm chất ma tuý của Trần Văn Đ ngày 27/10/2024 tại Công an phường M: Âm tính. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Trần Văn Đ, lúc 17 giờ 05 phút ngày 27/10/2024 tại Công an phường M: 1,043 mg/1 lít khí thở (có sử dụng chất có nồng độ cồn). Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1166/KL-KTHS ngày 06/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, xác định: Các kết quả chính: Xuất huyết nội sọ, vỡ xương sọ, đa vết thương phần mềm. Kết luận nguyên nhân chết: Nguyễn Thành L bị chấn thương sọ não gây vỡ xương sọ, xuất huyết nội sọ dẫn đến tử vong. Kết luận giám định số 1181/KL-KTHS ngày 07/11/2024 của phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu máu của Nguyễn Thành L tìm thấy thành phần cồn Ethanol, nồng độ Ethanol là 245,450 mg/100 ml máu.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 27 tháng 10 năm 2024 xác định dấu vết cơ bản dẫn đến vụ tai nạn giao thông như sau: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường liên phường, giữa phường M và phường H, thị xã C. Mặt đường trải nhựa bằng phẳng rộng 9,5 mét, có vạch sơn màu vàng liền nét kẻ giữa đường, phân chia thành 02 phần đường dành cho xe lưu thông hai chiều, không có vạch kẻ phân chia làn đường. Hướng phường M đi phường H, đường cong về bên phải, phía trước hiện trường có biển báo nguy hiểm “chỗ ngoặt nguy hiểm”. Nơi xảy ra tai nạn giao thông thuộc phần đường bên trái, ngay tại đoạn cong, cách biển báo “chỗ ngoặt nguy hiểm” 70,2 mét. Xe mô tô biển số 93P2 – 432.21 dựng tại đoạn cong thuộc phần đường bên trái. Xe mô tô để lại vết cày dài 40 cm, chiều hướng phường M đi phường H, trên phần đường bên trái. Điểm đầu vết cày cách mép lề đường bên trái 03 mét; điểm cuối vết cày cách mép lề đường bên trái 2,8 mét, cách tâm trục bánh sau xe mô tô 2,1 mét và cách đỉnh đầu nạn nhân 2,3 mét. Nạn nhân Nguyễn Thành L, nam giới, chết tại hiện trường ở tư thế nằm ngửa, ngay tại đoạn cong thuộc phần đường bên trái. Đầu nạn nhân quay hướng phường M, cách mép lề đường bên trái 1,85 mét; chân nạn nhân quay hướng phường H, bàn chân phải của nạn nhân cách mép lề đường bên trái 03 mét. Vết máu của nạn nhân kích thước 90 cm x 40 cm, thoát ra từ đầu của nạn nhân. Dấu vết chính qua khám nghiệm phương tiện: Xe mô tô Biển số 93P2-432.21, Số máy G3E6E0480713, Số khung 0750KK012705, Nhãn hiệu YAMAHA, Số loại MX KING, Màu sơn Đỏ Đen. Sau tai nạn giao thông, đầu tay lái bên phải, chân phanh bên phải, gác chân trước và gác chân sau bên phải do tác động với mặt đường gây trầy xước, mài mòn. Quá trình điều tra thu giữ: xe mô tô Biển số 93P2-432.21, có Giấy chứng nhận đăng ký hợp pháp số 088125 do Công an tỉnh B cấp ngày 20/04/2019 là tài sản hợp pháp của Trần Văn Đ nên Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn, bị cáo đã bồi thường 100.000.000 đồng cho người đại diện hợp pháp của bị hại và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai đã tuyên xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a,b khoản 2 Điều 260, Điều 50, Điều 38, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Trần Văn Đ 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/8/2025, bị cáo Trần Văn Đ kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo;

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm nhận định và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Văn Đ được thực hiện trong thời hạn luật định, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. [2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xác định. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, có cơ sở xác định:

Vào khoảng 15 giờ ngày 27 tháng 10 năm 2024, Trần Văn Đ không có Giấy phép lái xe môtô theo quy định, trong hơi thở có nồng độ cồn là 1,043 mg/1 lít khí thở, điều khiển xe mô tô Biển số 93P2 – 432.21, phía sau chở anh Nguyễn Thành L, đến đoạn đường thuộc tổ A, khu phố B, phường M, thị xã C thì không làm chủ tay lái, điều khiển xe mô tô chạy sai phần đường (chạy sang phần đường bên trái), rồi tự té ngã dẫn đến tai nạn giao thông, hậu quả làm anh Nguyễn Thành L chết.

Hành vi của Trần Văn Đ vi phạm khoản 8 và khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ (nay là khoản 1 và khoản 2 Điều 9, khoản 1 Điều 10 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ) là nguyên nhân chính, trực tiếp gây tai nạn giao thông. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a,b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.

Xét kháng cáo xin được giảm hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo thấy rằng:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại cấp sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả theo yêu cầu của đại diện người bị hại, đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất, mức độ, hậu quả hành vi mà các bị cáo gây ra, xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên và quyết định hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, đúng quy định của pháp luật. Mặc dù, tại phiên toà phúc thẩm bị cáo có cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ thể hiện bị cáo là lao động chính và gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có thành tích trong việc truy bắt tội phạm trong một vụ án khác nhưng tại phần thẩm vấn công khai tại phiên toà lời khai của bị cáo không phù hợp với tài liệu, chứng cứ do bị cáo cung cấp nên những tài liệu chứng cứ nêu trên không được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cấp phúc thẩm xem xét. Ngoài ra, bị cáo đi làm thuê và di chuyển rất nhiều nơi không có nơi cư trú ổn định. Do đó, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Văn Đ.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Văn Đ.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ